Trong suốt những năm tháng dài
của cuộc chiến trên mănh đất mà chúng ta gọi là
quê hương. Trong suốt quá tŕnh viễn du ở nơi
những mănh đất mới xa thăm thẳm mà chúng ta tạm
gọi là quê hương thứ hai, ở đó với tâm trạng của
những người đă một lần khoát áo chiến y dong dă
năm tháng khắp nẽo đường quê hương máu lữa.
Không ít th́ nhiều cũng đă cho chúng ta một vài
kỷ niệm, có thể là những kỷ niệm đẹp, mà cũng có
thể là những kỷ niệm buồn. Dù sao đi nữa cũng
vẫn là những kỷ niệm trong một quá tŕnh nào đó
trong cuộc đời của mỗi chúng ta. Ngồi nhớ lại để
rồi viết ra để chia sẽ với bạn bè đồng lứa đồng
cảnh, chia sẻ những vui buồn, nhưng cũng có thể
là những kinh nghiệm bản thân . Những lời trần
t́nh mộc mạc không sáo ngữ chải chuốc như những
danh hào tuyệt tác nào đó, những lới trần t́nh
mang một tính chất “thật” trong từng nét chử,
mang một tâm trạng “nhà binh” của những người mà
một thời gian nào đó trong cuộc đời đă đem xương
máu ḿnh để bảo vệ tổ quốc. Những bàn tay cầm
súng ngày nào bổng trở thành những chàng văn
nghệ dă chiến, dùng ngói bút cũa ḿnh để kể cho
nhau nghe, chia sẽ với nhau những kỷ niệm của
những ngày xưa thân ái. Cũng với tâm trạng đó
Web22 thân mời các bạn đi vào Vườn Hoa Nghệ
Thuật K22……
Thưởng thức
âm
nhạc,slide
show trên
Youtube do
ND2 Nguyễn đ
Trơn design,
thực hiện.
T́m lại vài
giây phút êm
ả
Nhiều người Việt có anh em ở cả hai phía
trong cuộc chiến Việt Nam
Hôm ấy, tôi thức dậy muộn, v́ suốt đêm
lo lắng và cảnh giác. Nghe tiếng cửa mở,
ngóc đầu nh́n qua cửa sổ, thấy bốn lính
thủy xuất hiện. Nh́n kỹ, may quá, trong
đó có đứa em tôi, con chú, ở chung nhà,
cấp bậc Trung sĩ, tên Hạ Minh Chung.
Bước vào nhà, đảo mắt nh́n, thấy tôi, nó
nói liền:
-À, anh Ng., hôm nay em có chuyện muốn
nói với anh…!
Tôi có cảm giác hơi lạ, lâu nay nó không
có vẻ nghiêm chỉnh đến thế.
-Ừ, th́ sẵn sàng! Tôi trả lời, trong
ḷng không khỏi ngạc nhiên.
Chung vào trong lấy ra một chiếc chiếu,
trải giữa nhà, vào tủ lấy ly, lôi trong
túi xách ra 2 chai rượu đế, bày ra
chiếu. Cả bốn anh Hải quân ngồi lại.
Chung nh́n tôi, nói rơ ràng từng tiếng
một, như ra lệnh:
-Anh hăy ngồi xuống đây!
Đó là thời điểm mấy ngày sau ngày Trung
Quốc chiếm Hoàng Sa: 19 tháng 1 năm
1974. Lúc đó tôi mới từ nhà tù Côn Đảo
trở về.
Tôi ngồi xuống.
Rượu được rót ra. Chung bảo phải uống
cạn ly đă!
Chúng tôi cùng uống cạn.
Chung bắt đầu lên tiếng, không chút
quanh co, dơng dạc từng tiếng một:
-Tại sao anh để Trung Cộng - phe anh -
chiếm Hoàng Sa của Việt Nam?
Trời đất, tôi bất ngờ như bị một cú đánh
vào đầu thấy bảy ông trời sao.
Trung Cộng chiếm Hoàng Sa cách đây mấy
hôm, thuyền trưởng Ngụy văn Thà đă chết
theo con tàu, theo truyền thống Hải
quân, phẩm chất và tính cách tương xứng
với chức trách mà anh đang nắm giữ, như
cụ Phan Thanh Giản uống thuốc tự vẫn khi
mất 3 tỉnh miên Tây. Sự hy sinh và cách
hy sinh của Ngụy văn Thà đă gây nên sự
xúc động trong quân đội VNCH và dân
chúng.
Em tôi, trung sĩ Hải quân VNCH, không
hiểu về chính trị, không quan tâm đến
Quốc gia hay Cộng sản, không tâng bốc
xun xoe với Mỹ, không bênh không chống
VNCH, càng không chống không theo CS,
nhưng nó lại tự hào bộ quân phục mà nó
mặc, và cái binh chủng mà nó đứng dưới
cờ.
Nó hạch tội tôi, cái tội gián tiếp, nó
dùng chữ “phe anh” là bộc lộ thân phận
giấu giếm của tôi, nó huych toẹt giữa
chiến hữu của nó. Té ra, lâu nay nó biết
tôi là ai, làm ǵ.
Nó chẳng phải là tư sản, chẳng phải là
trí thức, không phải là công nông, nó là
lính, trung sĩ, nó căm phẫn: Tại sao anh
để “phe anh” chiếm Hoàng Sa của Việt
Nam? Tôi biết trả lời sao đây! Trước
hết, tôi với Trung Cộng xa lắc, Hà nội
cũng xa, Rừng cũng xa. Họa hoằn lắm mới
có một anh trong bí mật của Thành đoàn
xuất hiện nói năm ba chút t́nh h́nh, mà
chuyện nầy th́ anh ta cũng ú ớ thôi!
Tôi phải dở tṛ ba hoa, mồm loa mép giải
để hạ nhiệt ḷng yêu nước chính đáng của
nó:
-Trời đất, anh làm ǵ mà phe phái với
Trung Cộng! Anh chỉ là sinh viên đấu
tranh cho ḥa b́nh thôi, để chấm dứt
chiến tranh, cho anh em thanh niên ḿnh
đở chết. Mà Ḥa b́nh cũng sắp có rồi!
Hiệp định kư rồi! Mỹ cũng đă rút về
nước! Hai bên giằng co đôi chút rồi cũng
phải ḥa nhau thôi…
Tôi lấy cái lư thuyết “Ḥa giải ḥa hợp
dân tộc” mà chống đỡ. Không nói kiểu này
th́ nói kiểu nào? Đang ở đây, không phải
ở ngoài Bắc, không phải trong Rừng, mà
đang ở giữa Sài G̣n, giữa bốn tên “Hải
quân ngụy”, không chừng chúng có súng
trong người cũng nên!
Bốn anh lính Hải quân VNCH cùng ngồi
uống rượu, không phải rượu vui mà cuộc
rượu buồn, rất buồn, không che dấu nỗi
thất vọng, nỗi bi phẫn, than thở một
cách chua chát:
- Tại sao chúng ỷ nước lớn hiếp nước
nhỏ?
Tâm trạng người lính VNCH, khi Mỹ rút
quân, vẫn hiểu ḿnh là nước nhỏ. Nhưng
dù bé nhỏ vẫn phải độc lập. cái ư thức
Độc lập mà phía Cách mạng tuyên truyền
cũng có trong người họ lâu nay. Mỹ rút
quân cũng có nghĩa Độc lập, nhưng họ
hoài nghi Việt Cộng trong quan hệ Nga
Tàu. Họ hy vọng vào ḥa giải ḥa hợp dân
tộc, Việt Nam lại hợp chung một nhà, trừ
những ai từng có trải nghiệm nào đó với
Cách mạng.
"Ḷng
tôi reo vui, nếu không th́ cũng lạnh
lùng, khi Trung Cộng chiếm Hoàng Sa.
Nghĩ rằng nó lấy giúp từ tay Mỹ, rồi
giao lại cho Việt Nam sau này. Sự thật
đă không phải thế, mà đă không chỉ có
thế!"
Chống Mỹ Cứu Nước, Thanh Niên Miền Nam
không căi được, nhưng Trung Cộng chiếm
Hoàng Sa th́ làm sao giải thích? Nó là
ǵ đây? Lời than thở của mấy chú lính
thủy, của em tôi, chuyển sang một hướng
cảm xúc khác cao hơn, thuần khiết hơn,
nó không kết án tôi theo kiểu “phe anh”,
mà thốt lên từ Nước Nhỏ. Nó đưa tôi về
cùng một mẫu số chung, nó đă ḥa hợp dân
tộc với tôi rồi. Chúng ta có chung một
t́nh tự dân tộc Nước nhỏ, đứng trước
hiểm họa chung là Nước lớn. Nó kêu gào
công lư ở b́nh diện rộng hơn: Tại sao
một nước lớn đi ăn hiếp một nước nhỏ?
Nỗi hoài nghi như đang tự giải mă.
Cái có lư lúc trước, lúc sau lại đang
trở thành vô lư.
Ngày nay nhớ lại, tôi tự hổ thẹn với em
ḿnh, v́ ư nghĩ của tôi lúc đó.
Tôi nói dối và lấp liếm sự thật. Nó biết
tôi là Việt Cộng, tôi nói ḿnh chỉ là
sinh viên thôi, và đấu tranh cho ḥa
b́nh. Ḷng tôi reo vui, nếu không th́
cũng lạnh lùng, khi Trung Cộng chiếm
Hoàng Sa. Nghĩ rằng nó lấy giúp từ tay
Mỹ, rồi giao lại cho Việt Nam sau này.
Sự thật đă không phải thế, mà đă không
chỉ có thế!
Tôi không tự dằn vật ḿnh cho lắm. Từ
lúc tuổi nhỏ đến cái tuổi ngoài 20, lịch
sử đă cài đặt trong tôi một phần mềm hơi
bị cũ hay đă rất lỗi thời, nhấp chuột
lung tung chẳng thấy hiện lên cái điều
ḿnh mong muốn, chỉ thấy sự nhảy múa của
dă thú và thiên thần. Mà thiên thần th́
nở ra từ trứng, mà trứng th́ do dă thú
đẻ ra!
Chiều ngày 29 tháng 4, giờ thứ 25 của
cuộc chiến.
Bịn rịn với gia đ́nh, giằng co với lư
trí, Chung chia tay với mọi người thân
sơ, vẫn trong bộ đồ hải quân rất ư hănh
diện, hớt hải chạy xuống Nhà bè, lên một
chiếc Hải thuyền cùng đồng đội của nó,
vượt qua sông rạch trong đêm, bị súng
trên bờ dập xuống, suưt chết mấy đợt,
vượt ra được biển khơi có tàu lớn đợi.
Nó định cư ở Mỹ, một thời gian làm Cảnh
sát khu vực rồi nghỉ hưu. Mỗi năm đều về
thăm nhà, không bao giờ nói chính trị,
không nhắc đến Hoàng Sa. Tôi cũng thế!
Tôi vờ quên đi, nó vờ quên đi. Nhưng tôi
vẫn nhớ, nó vẫn nhớ. Nó vờ quên v́ ḷng
nhân hậu của nó đối với tôi. Tôi vờ quên
v́ ḷng hổ thẹn bởi sự không toàn vẹn
lănh thổ. V́ không chỉ có Hoàng Sa, mà
c̣n Trường Sa, và bao nhiêu vùng nữa
trong đất liền.
Ban đầu, khi bỏ chạy, nó nghĩ nó là kẻ
thua cuộc, thiếu chính nghĩa v́ đi với
Mỹ. Sau này nó không nghĩ thế, có thể nó
nghĩ kẻ ấy là tôi. Một cú đánh hồi mă
thương đau đớn của lịch sử, một sụ lừa
mỵ có tính thời đại…
"Tuổi
trẻ Việt Nam phải dứt khoát cài đặt lại
phần mềm mới cho ḿnh để phù hợp với
tŕnh độ của thời đại, đáp ứng yêu cầu
cấp bách của dân tộc."
Chung chỉ khoe với tôi, nó câu được
những hai cô bồ, mỗi lần về nước đều
được rỉ rả vui vẻ.
“Anh hăy ngồi xuống đây!" là câu nói tôi
không quên. Tôi cũng muốn nói: Em hăy
ngồi xuống đây! Nhưng tôi chưa từng thốt
lên được, v́ không dám đối diện sự thật.
H́nh như bạn bè tôi cũng thế, họ làm như
họ chỉ có những chuyện bâng quơ thôi,
với chút tự hào an ủi cần cù nhặt nhạnh.
Tôi cũng muốn nói: Tất cả chúng ta hăy
ngồi xuống đây! Chuyện nước cũng chính
là chuyện nhà, phải chân thực, phải có
cảm xúc đồng- bào. Phải là từ ngữ thân
thương NƯỚC- NHÀ, thấm đẫm t́nh tự dân
tộc, chứ không phải từ Nhà Nước, chỉ trơ
ra, thành đồng nghĩa với quyền và lợi.
Các học thuyết chỉ là những tấm da lừa
trên yên ngựa, dù sao cũng đă cũ nát lắm
rối, không dùng được nữa!
Thắng thua đă rơ, nhưng cũng chẳng để
làm ǵ, đến nước này! Những cái mồm bên
kia đại dương chỏ về chửi rủa chẳng ích
chi, giống như đại úy Minh giẫm chân vào
mồm người biểu t́nh, chỉ rách việc!
Phải nhận chân được kẻ thù mới của thời
đại, chúng đang xâm thực đất liền và
quậy đục Biển Đông, chúng “dă thú” biết
chừng nào với đồng bào của chúng, nói
chi đến chư quốc lân bang thế giới đại
đồng!
Tuổi trẻ Việt Nam phải dứt khoát cài đặt
lại phần mềm mới cho ḿnh để phù hợp với
tŕnh độ của thời đại, đáp ứng yêu cầu
cấp bách của dân tộc.
Bài viết phản ánh quan điểm và văn
phong của tác giả, nguyên chủ tịch
Ủy ban tranh đấu Tổng hội Sinh viên
Sài Gòn.
VÀI H̀NH ẢNH HQ/VNCH TRONG NHỮNG
NGÀY CUỐI CÙNG CHIẾN TRANH VN:
TÀI
LIỆU HQ/VNCH hải hành tập đội đi
Subic Bay (philippine)
Cuốn phim "The Lucky Few" nói về cuộc di
tản cũa HQ/VNCH trong ngày 30-4-1975
NGƯỜI CON GÁI ĐÀ NẲNG
NGƯỜI CON GÁI ĐÀ NẲNG :Phim
bắt đầu bằng các tài liệu liên quan
đến những chuyến bay di tản trẻ em
mồ côi và cả trẻ em có cha mẹ, được
gửi đi Hoa Kỳ làm con nuôi vào những
ngày cuối tháng 4 năm 1975.
Một trong các em bé năm 75 nay đă
hơn 30 tuổi, lai Mỹ, t́nh cờ t́m
được tin tức bà mẹ và gia đ́nh hiện
ở Đà Nẵng. Sợi dây t́nh nghĩa mong
manh được nối lại. Lẫn với các phim
tài liệu, đạo diễn đă dựng lên một
câu chuyện kể lại tâm sự bà mẹ ở
Việt Nam và cô con gái lai tại Hoa
Kỳ. Cô bé hoàn toàn không biết tiếng
Việt, không c̣n nhân dáng Việt,
không biết tin tức về người cha là
lính Mỹ một thời ở miền Trung. Cô
kết hôn với một sĩ quan Hải Quân Hoa
Kỳ đă có hai con. Bà mẹ Việt Nam ở
Đà Nẵng ngày nay kết hợp lại với
người chồng Việt Nam cũ, có nhiều
con trai và gái. Đó là anh chị em
với cô gái lai đă được gửi đi làm
con nuôi tại Hoa Kỳ. Tất cả đều là
các nhân vật thật, đóng lại cuộc đời
của họ.
Cả nhà chờ đợi ngày về thăm quê của
người con gái Đà Nẵng. Từ hai đầu
câu chuyện, nói tiếng Anh, có nhiều
đoạn bằng Việt ngữ được phụ đề Anh
ngữ, việc gặp gỡ tại Việt Nam được
thực hiện. Đó là chuyến trở về quê
hương lần đầu và rất có thể là lần
duy nhất.
H́nh ảnh gia đ́nh Việt Nam ở Đà Nẵng
là h́nh ảnh rất thông thường như đa
số người Việt hiện nay đă biết. Đại
gia đ́nh nhiều anh em, bần hàn nhưng
không quá nghèo đói.
Hoàn cảnh gia đ́nh cô gái lai tại
Hoa Kỳ cũng thuộc giới trung lưu,
không giàu có ǵ. Tuy nhiên rơ ràng
là hai nếp sống khác biệt. Cô gái
lai trở về tuy đă có chuẩn bị học
nói những lời thương yêu bằng Việt
ngữ: " Con yêu mẹ. Con xin chào mẹ
v.v... Những rơ ràng là cô đang ở
tâm trạng ṭ ṃ và không hề được
hướng dẫn tâm tư cho việc đoàn tụ.
Đó có thể là diễn tiến tự nhiên,
hoặc là đạo diễn muốn câu chuyện cứ
xẩy ra như vậy.
Sau buổi gặp gỡ cảm động tại phi
trường, tiếp đến những ngày sống bên
nhau tuy ngắn ngủi nhưng rất nhiều
gượng gạo. Cô gái không thích ứng
được cuộc sống thiếu tiện nghi tối
thiểu. Không khí nóng nực, những
buổi đi chợ quê mùi thịt cá hôi tanh,
trong khi bà mẹ muốn khoe con gái ở
Mỹ mới về, nên cứ la cà đây đó.
Người con gái Đà Nẵng chỉ muốn ra
khỏi ngôi chợ xa lạ.
Trong câu chuyện kể lại, các anh chị
nói về những ngày thơ ấu, vất vả
nuôi cô em lai, rồi lo cho bà mẹ mà
cô gái đă bỏ lại. Đă có những lời lẽ
kể công và những đ̣i hỏi ràng buộc
trách nhiệm mà cô gái lai ngày nay,
đă hoàn toàn trở thành một phụ nữ Mỹ
vô tư, không thể cảm nhận được.
Buổi họp mặt gia đ́nh lần cuối trước
khi chia tay đă đưa câu chuyện lúc
mở đầu trùng phùng cảm động sau 30
năm xa cách, nay trở thành một bi
kịch.
Các anh chị em, qua thông dịch viên,
đă đặt thẳng vấn đề yêu cầu cô em
lai đưa mẹ qua Mỹ để lo cho bà có
cuộc sống đă từ lâu mong đợi. Và
trong hiện tại th́ cô em cần cho
biết là mỗi tháng giúp cho gia đ́nh
được bao nhiêu. Xin nói cho cả nhà
được rơ.
Và người con gái Đà Nẵng không thể
hứa hẹn, không thể tài trợ được, nên
đă gần như khóc lóc và bỏ chạy.
Rồi chuyến trở về Hoa Kỳ được tiễn
đưa gượng gạo. H́nh ảnh đưa người
con gái lai về Mỹ khác xa cảnh những
đứa trẻ ngày xưa lên máy bay qua Hoa
Kỳ. Đạo diễn tiếp tục cho hai đầu
câu chuyện nối tiếp. Người con gái
Đà Nẵng trở về Mỹ, thất vọng với quá
khứ và cũng không thể chia sẻ với
chồng con. Trong khi đó tại Việt
Nam, anh em than thở v́ cho là ngôn
ngữ bất đồng. Bà mẹ Đà Nẵng vẫn tiếp
tục khóc. Và câu chuyện ngưng lại ở
đó. Khán giả sẽ tự t́m ra câu trả
lời.
Operation
Frequent Wind
Một chuyến công tác
mật cũa USS Kirk và cuộc di tản cũa HQ/
QLVNCH 30/4/75
Hunt. Kill. Two
simple words that leave little to the
imagination. In naval warfare they are
the stark “bottom line” of antisubmarine
warfare. The 46 destroyer escorts of the
KNOX class entered the fleet in the
late-1960s and early-1970s, heirs to the
proud tradition of the deadly
“Hunter-Killer” task groups of WW-II and
the Cold War.
USS KIRK (DE-1087) was one of those
ships. She was built to stalk, to
pursue, to ensnare, and then to
mercilessly pound her submarine prey
down into the depths of the cold, dark
sea. She was a warship in every sense,
an efficient, utilitarian, deadly
fighting machine. Yet some of her finest
hours were spent tending pregnant women,
soothing terrified little children, and
saving the lives of tens of thousands.
This is the incredible story of a brief
episode in the early years of the long
life of USS KIRK.
A CHANGE OF PLANS
KIRK sailed from San Diego in early
March 1975, beginning her second Western
Pacific deployment since commissioning
in 1972. She was fully manned, fully
trained, and loaded for bear. KIRK was
as prepared for deployment as any
warship could be. With her armament,
machinery, and equipment fully
operational, KIRK was “C-1 and M-1″ –
100 percent functioning and “mission
ready”. KIRK was eager to pull her
weight in the Seventh Fleet, but what
began as a “normal” deployment soon
changed dramatically.
War was still raging in Vietnam, but
it was no longer KIRK’s war, as American
combat forces were long gone. The war
had been “Vietnamized” a few years
previously, but now the news was dire.
North Vietnamese forces were making
swift progress as they pushed south,
overrunning cities, towns, and villages,
pummeling South Vietnamese forces
seemingly at will. There was growing
panic in the south. The long, costly
Vietnam War was coming to a tragic end.
One question remained: when would Saigon
fall? Preparing for that inevitable
outcome, American forces were gathering
once again in the South China Sea and a
complex operation was beginning to
unfold: the evacuation of the remaining
Americans from Cambodia and Vietnam, and
the rescue of as many foreign nationals
and loyal South Vietnamese as possible.
Eventually, more than fifty ships of the
United States Navy, plus a large number
of Military Sealift Command (MSC) and
civilian contract vessels took part in
the operations, along with aviation
units of the Navy, Marine Corps, and Air
Force
1.
One facet of this intricate plan sent
the venerable attack carrier USS HANCOCK
(CV-19) to Hawaii to offload most of her
air wing, trading in her Navy fighter
and attack aircraft for Marine heavy
lift troop carrying helicopters. HANCOCK
then barreled at high speed from Pearl
Harbor to the Western Pacific to join
the growing evacuation group, receiving
additional Marine helicopters along the
way from USS MIDWAY (CV-43) in a
late-night, high speed consolidation
exercise in the San Bernardino Strait.
KIRK was HANCOCK’s sole escort during
that dash to the west. For KIRK’s bridge
teams, line handlers and fueling teams,
replenishing from HANCOCK at speeds in
excess of 20 knots was an
adrenaline-pumping break from the
routine.
Cambodia fell before Vietnam, and
KIRK played her part in “Operation Eagle
Pull”, the early-April evacuation of
Phnom Penh. It proved to be a quick,
orderly extraction of fewer than 300
Americans – hardly a preview of the
controlled chaos that awaited her later
off the coast of Vietnam
2.
The Cambodia operation behind her,
KIRK sailed south with USS COOK
(DE-1083) and USS MIDWAY (CV-43) and
steamed into Singapore on 16 April for a
welcomed visit to that exotic port. But
it ended all too soon when liberty was
summarily cancelled, the crews abruptly
recalled, and the three ships ordered to
race back to the north to rejoin the
evacuation force off the coast of
Vietnam. Something was clearly brewing.
During the preceding weeks the North
Vietnamese noose had steadily strangled
Saigon and Tan Son Nhut Airbase, and now
there were virtually no remaining
options. Encircled and cut off from the
sea, Saigon stubbornly endured a few
more days of ever-intensifying shelling
by the oncoming NVA and Viet Cong forces
3. But finally, on the morning of 29
April, with Communist forces penetrating
the city from all sides, there were no
remaining options. It was time to go.
American ambassador Graham Martin
reluctantly ordered the long-anticipated
pullout from Saigon, and “Operation
Frequent Wind” was underway.
EXODUS BY AIR AND SEA
During the next two days over 7,000
“official” evacuees were flown from the
courtyard of the American Embassy in
Saigon, and the Defense Attache’s Office
(DAO) compound at Tan Son Nhut Airbase
on the outskirts of the city
4. The unmistakable sound of
American heavy helicopters thundering in
from the sea and across the city
signaled to those below that the
evacuation was in full swing. All
morning long, KIRK patrolled her
assigned defensive area off the coast at
Vung Tau, near the mouth of the Saigon
River, and witnessed the American
helicopters cycling in from the sea and
back out, delivering their human cargo
to the ships beyond the horizon.
With word of the long-anticipated
evacuation operation spreading rapidly
throughout Saigon, numerous South
Vietnamese Air Force (VNAF) helicopters
independently took to the air and joined
the exodus. Although not part of the
formal Frequent Wind “flight plan”,
these uncoordinated, impromptu
helicopter evacuations grew into a mass
escape from land to sea, and were
directly responsible for saving
thousands of lives.
fig1
These ragtag remnants of the South
Vietnamese Air Force were on their own,
piloting small, grossly overloaded,
shot-up, low-on-fuel utility
helicopters, ferrying their terrified
families and friends into the unknown.
These desperate aircrews – flying the
ubiquitous “Huey” (UH-1) helicopters –
were never considered in the detailed
planning of the Frequent Wind operation,
and they soon proved to be a
complication. Nearing fuel exhaustion,
scores of these “unknown” contacts
swarmed out to the large American ships
on the horizon. The VNAF Hueys
frequently disrupted the orderly landing
patterns of the waiting aircraft
carriers and amphibious ships, as they
alighted by the dozens – uninvited – on
crowded flight decks. Some, with empty
fuel tanks, were forced to ditch in the
sea alongside the American ships, with
the tragic loss of an unknown number of
Vietnamese men, women, and children
5. Intent on reaching the larger
flight decks further out to sea, these
VNAF pilots overflew the numerous
smaller ships stationed in defensive
positions close in to shore. USS KIRK –
with her small, but open flight deck –
was one of those small ships that
watched in awe and frustration as the
heavily loaded UH-1s flew overhead, out
to sea to an uncertain fate.
THE FIRST OF MANY
All morning long KIRK’s Combat
Information Center (CIC) transmitted on
the air distress frequency that “Ship
1087″ had an open flight deck. Under a
broken overcast, with intermittent rain
squalls, dozens of Hueys swarmed toward
KIRK. But none of the Vietnamese pilots
appeared to notice her, repeatedly
flying close and low overhead the
frigate, but further out to sea.
Finally, shortly after noon, after hours
of seemingly fruitless broadcasting, one
of the VNAF pilots abruptly turned
inbound to KIRK. It was a first for KIRK
and a first for the Vietnamese pilot,
but fortunately for both, KIRK’s young
LSE (Landing Signal Enlisted) on the
flight deck took it in perfect stride.
The LSE – Airman Gerald McClelland –
stationed himself in his usual place on
deck beneath that unfamiliar helicopter,
and guided the UH-1 safely in for its
first landing on a rolling U.S. Navy
flight deck. Over the next two days
KIRK’s LSEs distinguished themselves
time and again by safely landing sixteen
Vietnamese helicopters without a single
mishap, onto a flight deck designed to
accommodate just one
6. fig2
Thinking that the first helicopter
was a fluke and would be the only one to
be taken aboard, KIRK’s flight deck crew
dragged and pushed it to the forward
port corner of the flight deck to be
saved. But in rapid succession, more
desperate VNAF helicopters began to
circle KIRK. In short order, the second
UH-1 was safely aboard (though the
drooping rotor blades damaged the tail
rotor of the stowed first Huey), and
there were still more Vietnamese
helicopters waiting their turn on “short
final”. The flight deck was large enough
to land just one helicopter, so each
subsequent Huey had to be jettisoned
over the side after the refugees were
safely on board.
fig3
In this manner, by midnight on the first
day, KIRK had recovered twelve UH-1s
carrying a total of 157 refugees, more
than half of whom were women, children,
and babies. And by day three, that total
had grown to sixteen UH-1s safely landed
onboard, one CH-47 ditched alongside,
and one USMC AH-1 Cobra gunship ditched
nearby. During those three days, nearly
200 Vietnamese refugees and two U.S.
Marine pilots found refuge in KIRK. And
in the end, KIRK managed to find room on
board to save three Vietnamese UH-1
helicopters that were eventually
returned ashore at the U.S. Naval
Station, Subic Bay, and one Air America
UH-1 that was successfully transferred
at sea to USS OKINAWA.
fig4
Among all the Hueys on that first
day, a crowded Vietnamese CH-47 (a
twin-rotor “Chinook”, the heaviest
helicopter in the Vietnamese inventory)
also attempted to land but was
frantically waved off. The aircraft was
much too large for KIRK’s flight deck,
so the pilot hovered low over the
fantail and unloaded his precious cargo
of men, women, children, and infants –
and his aircrew – into the waiting arms
of KIRK crewmen below
7. Then, flying his behemoth
helicopter all alone, the pilot moved a
short distance off KIRK’s starboard
quarter, hovering within inches of the
sea. He slowly rolled the Chinook on its
right side, escaping the spectacular
crash unharmed by diving out the left
door in mid-roll. Both main rotors
disintegrated on impact, and shattered
shards of the blades flew across KIRK,
splashing into the sea well to port. The
crews of KIRK’s gig and motor whaleboat
were standing by and rescued the pilot
in short order. There could hardly have
been a more masterful bit of flying, or
a braver pilot that day.
fig5
Ironically, the most complicated aspect
of the rescue was the recovery of the
half-dozen, or so KIRK crewmen who, on
their own, jumped pell-mell into the sea
in a well-intentioned, but vain attempt
to save the passengers of the ditched
Chinook – passengers who were in fact
already safely on board KIRK. In a comic
touch, the would-be rescuers ran right
past the Vietnamese passengers, not
noticing them in their single-minded mad
dash over the side! COBRA – THE LAST HELICOPTER OUT
OF SAIGON
Later that night, at the beginning of
the midwatch, yet another helicopter was
observed inbound to KIRK. This one,
however, was a U. S. Marine Corps attack
helicopter, an AH-1J Cobra gunship that
had lingered until the end above the
American Embassy compound, providing
protection to the evacuation force.
fig6
It was out of fuel and unable to reach
USS OKINAWA (LPH-3) far out on the
horizon. Making a one-shot attempt to
set down on KIRK – the only lights
visible for miles around – the pilot,
Capt. John Bowman, USMC and his
copilot/gunner, 1st Lt. David Androscot
– saw that the flight deck was “fouled”
(the last Huey to touch down on KIRK was
still on deck)
8. With both engines flaming out,
the Marine pilots had no choice but to
wave off, turn away, and auto-rotate
into the sea about a half-mile from
KIRK. The touchdown – dimly illuminated
by KIRK’s signal lights – was observed
by many of KIRK’s crew, who witnessed a
superb demonstration of airmanship under
the most extreme conditions. The motor
whaleboat crew – with rescue swimmer
AWAN Mike Washington on board – quickly
retrieved the Cobra crew, none the worse
for wear. They were flown back to
OKINAWA the following afternoon by
KIRK’s LAMPS pilots, LT Rick Sautter and
LTjg Scott Steele aboard the blue and
silver Air America Huey – ironically,
the same helicopter that fouled KIRK’s
flight deck the night before, leaving
Capt. Bowman no choice but to ditch his
heavily armed aircraft. (Their grateful
squadron mates on OKINAWA – the Marines
of HMH-462 – ransomed their returning
comrades with the princely sum of five
gallons of strawberry ice cream!)
fig7
The morning of the second day brought
a heavy downpour as the 157 refugees
rescued the previous day were
transferred by boat to one of the large
American freighters that had gathered in
a holding area about twenty miles off
the coast. It was an emotion-charged
parting that deeply affected KIRK’s
crew, but drew loud cheers and applause
from the grateful refugees as their boat
pulled away in the torrential rain. KIRK
was once again “civilian-free” and ready
for action. But not for long.
fig8
Shortly, two more Vietnamese Hueys,
laden with refugees and low on fuel,
bore in on KIRK and landed on her flight
deck, like the twelve others the day
before. By now it was routine. But these
refugees were quickly transferred to the
larger ships nearby, and KIRK sped back
to the coast to an almost-surreal sight:
hundreds of boats of all sorts were
swarming out from the beach, going as
fast as their small engines would carry
them. Many were precariously loaded to
the gunwales with refugees. They
gathered around each of the large
American ships in the holding area,
impatiently waiting their turn to
offload their terrified refugees.
fig9
The sky was now eerily empty. The
evacuation continued unabated, but now
it was primarily water-borne, and there
was no longer a pressing need for KIRK’s
well-worn flight deck
9. So KIRK reverted to her original
role of force protection, patrolling her
assigned sector. But the anticipated air
attack on the evacuation force never
materialized. (One brief threat, an
unknown, fast moving, closing air
contact, was eventually evaluated
“friendly” – a U.S. Navy A-7 jet with
malfunctioning electronics. But this was
a milestone for KIRK – the first time in
her short life to go to genuine battle
stations – “General Quarters” spurred on
by the ominous phrase “this is not a
drill”.)
As the afternoon wore on, KIRK’s
Captain, Commander Paul H. Jacobs
decided to save another Huey – the last
to land was still sitting on deck –
rather than jettison it like most of the
others. But this one would find its new
home not on the flight deck, but below
and aft on the cramped fantail of KIRK.
It would be a tight fit – the designers
of the DE-1052 class ships never
anticipated landing a helicopter in that
tiny space – but after careful
calculations and measurements, all
agreed it would work. (Fortunately, KIRK
was one of the few ships of the class
that did not have the bulky box of the
“Basic Point Defense” missile launcher
installed on the fantail, as most others
had.) After confirming the clearances to
the overhanging flight deck, KIRK’s
LAMPS pilots strapped in, lifted off,
and gingerly set the veteran Huey down
on the fantail, where the aircraft
remained until it was offloaded by crane
days later in Subic Bay.
fig10
FINAL RENDEZVOUS OF THE NAVY
OF THE REPUBLIC OF VIETNAM
Late in the afternoon of the second
day, KIRK received orders to rendezvous
with USS BLUE RIDGE (LCC-19), flagship
of the U.S. Seventh Fleet for a boat
transfer of “an important person”. That
VIP turned out to be Richard L.
Armitage, emissary of the Department of
Defense (and a future Deputy Secretary
of State). He had been working in
Vietnam for some time planning the
extraction of as many South Vietnamese
Navy ships as possible. It was KIRK’s
new mission to deliver Mr. Armitage to
the Vietnamese Navy CNO’s flagship
(HQ-03) off Con Son Island, east of the
southern tip of Vietnam, early the next
morning.
At dawn on the first day of May, KIRK
was greeted by the somber sight of the
remnants of the Vietnamese Navy: scores
of boats and ships of all sizes and
descriptions, either anchored, drifting,
or slowly steaming in the vicinity of
Con Son Island. Some were empty and had
been abandoned in the previous days, but
thirty-two ships that were determined
seaworthy for open-ocean transit were
overloaded with refugees.
fig11
Aboard those ships were more than thirty
thousand Vietnamese men, women, and
children, and the entire fleet was well
within striking range of North
Vietnamese MIGs that were suspected to
be operating freely out of the captured
Tan Son Nhut airfield. Mr. Armitage’s
monumental task was to quickly move
those vulnerable ships and their
precious human cargo out of harm’s way
and east to the Philippines. And KIRK
was detailed to lend a hand. This
challenging undertaking became part of
“Operation New Life”, the massive
movement of Vietnamese refugees to the
Philippines, then on to Guam, and
eventually on to the United States.
While Mr. Armitage worked to bring
order to the milling Vietnamese ships,
KIRK was busy picking up additional
refugees from two civilian boats found
drifting at sea, distributing food,
water, and medical supplies to the
anchored ships and gathering up a number
of “unofficial” American citizens found
among the Vietnamese refugees. A major
undertaking was the assistance given to
the Vietnamese
ship RVNS LAM GIANG (HQ-402), an ex-USN
LSM (Landing Ship, Medium). This small
ship had barely escaped the previous
afternoon from the dockyard in Saigon,
with thousands of refugees aboard
10. It had been harassed by
communist fire during its slow,
harrowing escape to sea down the Saigon
River. Limping along on just one engine
and one failing electrical generator,
its steering gear and bow doors damaged,
HQ-402 was in immediate danger of
sinking. With KIRK standing by with
lifeboats, swimmers, and medical
personnel, a larger Vietnamese ship was
brought alongside the sinking HQ-402,
and all the refugees transferred by
jury-rigged planks to the larger ship.
The severely damaged HQ-402 soon sank.
KIRK then went alongside the larger
Vietnamese ship to transfer water, food,
and medical supplies for the terrified
refugees
11. fig12
That afternoon, a VNAF pilot flew his
UH-1 aboard KIRK from one of the
Vietnamese LSTs in the formation, where
it had landed days before. Aboard the
Huey were four VNN SEALs (members of the
Vietnamese SEa, Air, and Land special
operations team) intent on ferreting out
food and medications for the thousands
of refugees aboard their LST. While the
SEALs were below decks gathering their
supplies, KIRK’s flight deck crew set
about refueling the helicopter. Almost
immediately, though, fuel began pouring
from bullet holes in the Huey’s fuel
tank. It had been so damaged by small
arms fire that the fueling crew
immediately jettisoned the helicopter
over the side – as so many others had
been “deep-sixed” just hours before.
Unfortunately, neither the VNAF pilot
nor the VNN SEALs were consulted in the
decision to push the Huey over the side.
When they returned to the flight deck,
heavily laden with food and medical
supplies and ready to fly back to the
LST, the SEALs found to their chagrin
that their helicopter was slowly sinking
a half-mile astern in the wake of KIRK.
The disgruntled Vietnamese pilot and his
SEAL passengers returned to their LST by
boat. That was Huey number fifteen.
fig13
Later that same afternoon, KIRK’s
LAMPS pilots were sent by boat to
recover the sixteenth UH-1 from another
VNN LST. It had been sitting on deck,
open and full of fuel, in the midst of
over three thousand refugees, an
imminent hazard to the women and
children huddled beneath it. Clearing
the area as much as possible, KIRK’s
LAMPS pilots started the engine, gently
lifted the Huey off the overcrowded LST
to the applause of thousands of
refugees, and flew the UH-1 back to
KIRK, where it also remained until
offloaded by crane in Subic Bay. RESCUE AND ASSISTANCE – A
FREIGHTER ADRIFT
Late that same day, a drifting
civilian Vietnamese coastal freighter,
the TAN NAM VIET, hailed KIRK and
requested immediate assistance, claiming
to be out of fuel and slowly sinking.
This ship had also escaped from Saigon,
taking at least two B-40
rocket-propelled grenade hits from North
Vietnamese forces on the banks of the
river. fig14
She had over 600 refugees crowded
aboard, and had hurriedly gotten
underway without a qualified engineer on
board
12. When her engine eventually ran
out of fuel, she came to a stop, as no
one knew how to transfer her reserve
fuel. Slowly rising water in the engine
room brought on fears of sinking, but
the bilges could easily have been pumped
had anyone simply known how to do it.
KIRK’s engineers – led by her intrepid
Main Propulsion Assistant, LT John S.
Pine and Chief Boiler Technician Wallace
L. Michaelson – boarded the ship, and in
spite of a significant language barrier
(none of the Vietnamese crew spoke
English, technical manuals were in
Japanese, and instruction plates were in
Vietnamese), they went to work in the
engine room. Just before midnight, they
succeeded in starting the freighter’s
huge main engine. At the time, the main
deck was covered with sleeping women,
children, babies, and mothers nursing
their infants. The peace and quiet was
abruptly shattered with the roar and
rumble of the main engine coming to
life. KIRK’s young engineers had mixed
emotions. Their success had awakened the
sleeping babies, who were now – in
unison – crying their eyes out. But the
main engine was running again, and the
ship was alive once more. When the
engine had warmed it was quickly secured
and the babies thankfully drifted back
to sleep. TAN NAM VIET, too, drifted
quietly in the holding area the
remainder of the night.
Most of Friday, 2 May was spent
patrolling the holding area,
transferring food, water, medicine, and
supplies, and after a number of false
starts, finally shepherding a reluctant
TAN NAM VIET on her way east toward the
Philippines. Many hours later, KIRK was
at long last detached from the holding
area and steamed off to rejoin the full
formation of the Vietnamese Navy, which
was moving slowly east under the escort
of USS COOK (DE-1083). But TAN NAM VIET
soon blocked KIRK’s path once again. The
freighter was lying dead in the water on
the horizon. And once again KIRK’s
engineers returned aboard for additional
engineering repairs – including
rebuilding one cylinder of the massive
main propulsion engine. KIRK’s Executive
Officer, LCDR Richard B. McKenna,
accompanied by Chief Hospital Corpsman
Stephen Burwinkel and supply personnel,
who held sick call and distributed food
and supplies to the refugees, joined the
engineers and the entire contingent
remained aboard TAN NAM VIET overnight
and throughout the next day.
fig15
THE FIRST – AND LAST – OPEN
OCEAN TRANSIT OF A VIETNAMESE NAVY FLEET
Finally catching up to the formation
again on 3 May, KIRK immediately went
alongside the Vietnamese flagship, RVNS
TRAN NHAT DUAT (HQ-03) to render
engineering assistance in repairing her
diesel generators, and in transferring
4,000 gallons of fresh water
13. KIRK’s crew was well used to
going alongside another ship at sea,
having refueled, rearmed, and
reprovisioned numerous times. It was
part of the routine for a warship at
sea. But this time it was a full
six-line moor alongside a drifting
Vietnamese destroyer escort, not a
highly choreographed underway
replenishment. With Captain Jacobs at
the conn, KIRK slid smoothly alongside
HQ-03, and the line handling teams of
both ships – Vietnamese sailors and
American bluejackets – worked as one to
snug the two ships together.
fig16
KIRK and HQ-03 remained moored together
for only a few hours, and when the last
line slipped overboard on getting
underway, some saw it as a larger,
poignant symbol of the final parting of
two old friends and allies.
Many hours later TAN NAM VIET, once
again under her own power caught up with
the formation, and KIRK’s exhausted –
but successful – engineers, medical,
communications, and supply personnel
finally returned from both TAN NAM VIET
and HQ-03.
fig17
While alongside HQ-03, a Vietnamese
sailor was brought aboard KIRK with a
badly fractured leg. His injury required
urgent transfer to a ship with a proper
operating facility, but KIRK’s own
helicopter – an SH-2F LAMPS – was “hard
down” in the hangar. So while KIRK’s
hospital corpsmen readied the patient
for transfer, KIRK’s Air Department set
about preparing one of the Vietnamese
helicopters for one more mission. This
helicopter was the very first to land,
and had been pushed to the side of the
flight deck. It was a virtually new
aircraft and in excellent condition,
except for the damaged tail rotor
(clipped by the second Huey to land). In
just a few hours, KIRK’s Air Department
had it flying again with a transplanted
tail assembly cannibalized from one of
the UH-1s that was later jettisoned.
With KIRK’s LAMPS pilots at the controls
of this olive green “Phoenix”, the
patient was successfully flown some
distance to USS MOBILE (LKA-115) for
treatment.
fig18
Under the command of Commander,
Destroyer Squadron 23 (Commodore Donald
“Pete” Roane, embarked in KIRK), USS
KIRK and USS COOK, USS TUSCALOOSA
(LST-1187), USS DELIVER (ARS-23), USS
ABNAKI (ATF-96), and USNS LIPAN
(T-ATF-85) formed the immediate escort
and support force for the remnants of
the Vietnamese Navy.
fig19
Other ships of the Seventh Fleet –
including USS MOBILE (LKA-115), USS
BARBOUR COUNTY (LST-1195), USS VEGA
(AF-59), and USS DENVER (LPD-9) – though
not part of the immediate escorting
force, provided vital medical and
logistical support throughout the
remainder of the transit to Subic. The
combined USN/VNN “fleet”, now nearly
forty ships strong, then settled down to
a slow, eastward transit toward the
Philippines. The formation was a simple
one: two parallel columns, each with
sixteen refugee-laden Vietnamese ships
stretching back over five miles, with
the American ships maneuvering around
and within the formation providing
engineering, medical, and logistical
support.
fig20 Fortunately, the Pacific
Ocean lived up to its name, as the
transit was extraordinarily calm and
peaceful. Few of the thirty thousand
refugees had ever experienced the open
ocean, but for the most part they were
thankfully spared the misery of mal de
mer. fig21
A NEW GENERATION OF AMERICANS
Assistance teams from the U.S. Navy
ships conducted systematic daily visits
to each refugee ship, tending to the
many serious engineering problems of the
Vietnamese ships, and also ministering
to the health and nutritional needs of
tens of thousands of refugees. A number
of pregnant women were eventually
discovered in the teeming crowds, and
the decision was made to consolidate
these at-risk women – along with their
extended families – aboard KIRK, where a
compartment was quickly converted into a
makeshift maternity ward
14. Volunteers from KIRK’s crew were
assigned to tend to the needs of these
women and their families around the
clock. These young sailors, such as Don
Cox from the Air department, and Todd
Thedell of the Operations Department,
performed their unusual “non-military”
duties in a truly outstanding fashion.
Eventually, over a period of two days, a
total of five expectant mothers – two
nearing full term – were resettled
aboard KIRK. The first of these young
mothers-to-be was Nguyen Thi Tuong-Lan
Tran who was brought on board on 3 May.
Her husband, a pilot in the Vietnamese
Air Force, had been left behind in
Vietnam. Lan Tran was in the final month
of her pregnancy, and had endured weeks
of turmoil and privation prior to her
escape aboard the Vietnamese ship RVNS
LY THUONG KIET (HQ-16). She was in poor
physical shape when she and her elderly
mother were transferred to KIRK, but
once aboard she improved markedly, and
gave birth to a beautiful little girl
three weeks later in the refugee camp in
Guam. Lan Tran was so appreciative of
the care provided by the crew of KIRK,
that she formally named her little girl
Tran-Nguyen KIRK Giang-Tien
15. fig22
By the following day, 4 May 1975,
four more pregnant women had been
located and transferred, with their
families, to KIRK. One of the four,
Nguyen Thi An, was also nearing full
term, and had to endure two transfers at
sea: first, from the ill-fated HQ-402,
when she and her small family hastily
abandoned that sinking ship across the
makeshift planks, and then again when
she was discovered in the crowd and
transferred by small boat to KIRK.
Nguyen Thi An also gave birth to a
beautiful baby girl at the refugee camp
in Guam three weeks later, naming her
Rose Ann Vien Phuong Pham.
fig23
As this article “goes to press”, another
of the five then-pregnant women has been
identified, and attempts are being made
to contact her – and her child.
On that same day, 4 May, two
seriously ill infants – one with
pneumonia – were brought aboard; seven
tons of rice were loaded by hand in
twenty minutes through KIRK’s sonar
access door in her stern; and throughout
the day, medical supplies, food, and
water were continually transferred by
KIRK’s two small boats to Vietnamese
ships in the formation. It was a routine
day for more than thirty thousand
refugees in the South China Sea. It was
a routine day for KIRK.
fig24
Even though the incidence of
seasickness was relatively light (except
in the “maternity ward”), the close,
primitive, unsanitary conditions that
prevailed in virtually all the refugee
ships fostered widespread gastric
problems, including dysentery and
diarrhea. With so large a patient
population, and the rapid depletion of
the medical stores of the escorting
American ships, large quantities of
critical medications were flown out from
Clark Air Force Base aboard a USAF
EC-130. The Hercules skimmed low over
the waves and airdropped sealed
55-gallon drums of medical supplies from
its stern ramp into the sea alongside
KIRK’s waiting motor whaleboat.
fig25
Throughout the day on 5 May, a total
of more than sixty U.S. Navy personnel
were transferred in pairs to each
Vietnamese ship to act as “liaison”
personnel and to assist the Vietnamese
crews in preparing their ships and
refugees for entering port.
fig26
These officers and men came from all the
U.S. Navy ships in the formation, with
KIRK supplying thirty-nine men on
nineteen different VNN ships. They
remained aboard their assigned ships
until finally walking ashore in Subic
Bay
16. fig27
Tuesday, 6 May was supposed to have
been the day the refugee formation
entered Subic Bay, and more than thirty
thousand excited men, women, and
children awoke to the day with great
anticipation. But bureaucratic and
political problems required the refugee
fleet to delay entry into Philippine
waters for a full day. This presented a
serious dilemma to the fleet. Stopping
nearly forty ships in mid-ocean for any
length of time would bring chaos, and
the thousands of refugees would surely
misinterpret an abrupt “about face” so
near to freedom. Were they heading back
to Vietnam? Would their hopes now be
dashed? Were they to be repatriated to
their dreaded communist enemies? How
could the senior officers in charge of
this vast formation get reassuring word
out in sufficient time to avoid massive
unrest – even rioting – aboard these
ships
17?
The solution was simple. Instead of a
crisp, seamanlike “right standard
rudder”, the formation instead gradually
slowed and began an irregular series of
small course changes that eventually
covered many square miles of the Pacific
Ocean. The meandering, slow motion turn
took many hours to complete one full
circle, and the frustrating delaying
tactic was successfully accomplished
without alarming a single refugee. But
for the young sailors in KIRK,
accustomed to the smart, agile
maneuvering of their 35,000 horsepower
destroyer escort, it was pure
professional agony!
One condition of entry into
Philippine waters was that all of the
Vietnamese ships and all refugees aboard
those ships had to be totally disarmed.
This monumental task was accomplished
throughout the rest of the day by small
boats from all the American escorts,
hour after hour, collecting literally
thousands of small arms from all the
Vietnamese ships.
fig28
In the case of the ships themselves, all
magazines and ready service lockers were
stripped of their 20mm, 40mm, 81mm,
3-inch, and 5-inch ammunition, which was
then jettisoned overboard, and all heavy
guns and launchers installed in the
ships were disassembled, and their
operating mechanisms dropped over the
side in deep water. It turned out to be
a long, busy, grueling day for all
hands, disposing of many tons of
ammunition and ordnance under the
watchful eyes of U.S. Navy personnel.
fig29
With the morning of 7 May came word
that the government of the Philippines
had finally cleared the formation to
enter Subic Bay, so at precisely 1200
noon, the crews of each Vietnamese ship
fell in at formation to witness the
solemn ceremony that passed command of
their ship to the senior U.S. Navy
liaison officer onboard
18. Striking the red and gold flag
of the Republic of Vietnam, and raising
the Stars and Stripes returned these
thirty-two ships temporarily to the list
of the United States Navy, a
precondition for their entry into the
territorial waters of the Republic of
the Philippines.
fig30
It was a difficult moment for the
exhausted Vietnamese officers and men
standing at attention in the brilliant
sun. The Navy of the Republic of Vietnam
was no more.
fig31
Later that afternoon, those
thirty-two proud ships, with the Stars
and Stripes now snapping from their
masts, sailed in precise formation into
the deep protected harbor of Subic Bay.
And thirty thousand brave Vietnamese
people finally breathed free.
fig32
NOTES:
General Note: With few exceptions,
this story is a first-hand account, told
by the officers and men of USS KIRK
(DE-1087), and some of the Vietnamese
refugees rescued during Operation
Frequent Wind. The structure and
timeline of the account is based on
three primary source documents dating
from the Spring of 1975: 1) the USS KIRK
(DE-1087) official “Ship’s Deck Logs”
covering the months of April and May
1975; 2) the USS KIRK “Familygram”, a
16-page detailed chronology compiled in
mid-May 1975, less than a week after the
end of Operations Frequent Wind and New
Life; and 3) the transcript of nearly
two hours of voice recordings taped at
intervals throughout the operation by a
member of KIRK’s crew, describing the
hour-by-hour events of KIRK’s
participation in Operations Frequent
Wind and New Life. These three “period”
sources are augmented by many detailed
personal memoirs of KIRK crewmen and
former Vietnamese refugees, compiled
thirty years later, as part of an
ongoing project to write the history of
USS KIRK (DE/FF-1087).
1. For an excellent detailed
discussion of the immediate events
leading to the fall of Saigon, see
Chapter 5 of By Sea, Air, and Land: An
Illustrated History of the U.S. Navy and
the War in Southeast Asia by Edward J.
Marolda ***(http://www.history.navy.mil/seairland/index.html),
Department of the Navy — Naval
Historical Center, Washington DC.
2. Walter J. Boyne, “The Fall of
Saigon”, Air Force Magazine, April 2000.
3. Early in the evening of 28 April,
KIRK’s Executive Officer, LCDR Dick
McKenna was sitting at his desk penning
the next day’s Plan of the Day – a plan
that was shortly to be “overtaken by
events”. He was interrupted when the
Officer of the Deck (OOD) called down
with an excited, “XO, you’ve got to come
up and see this!” As McKenna recalls,
“When I got to the bridge, the watch,
plus a goodly number of the sailors that
had come topside were watching the sky
in awe.” He remembers it as “…the most
memorable show of lightning that I have
ever seen.” Others remember the same
extraordinary display as the reflection
of the intense artillery, rocket, and
mortar barrage illuminating the cloud
formations over the coast. Whether the
awesome spectacle was a fluke of nature
or simply the deadly work of man, all
who witnessed it agreed it was, in LCDR
McKenna’s words, “the most ominous and
foreboding display”.
4. Walter J. Boyne, “The Fall of
Saigon,” Air Force Magazine, April 2000.
5. In one memorable incident, a VNAF
O-1 “Birddog” fixed-wing aircraft – the
military version of a small
single-engine Cessna – landed aboard USS
MIDWAY, safely delivering the pilot, his
wife, and five children in his first and
only carrier landing. Fortunately, the
fragile airplane was retained on board
MIDWAY, and is now on prominent display
at the Museum of Naval Aviation, in
Pensacola, Florida.
6. Gary I. Cassat, LT, USN,
“Impossible?” Fathom Magazine, Summer,
1976.
7. OS3 Peter Burinskas, MMFN Kent
Chipman, and OSSN John Sullivan were
three of the KIRK volunteers waiting in
the rotor downwash on the fantail just
below the hovering Chinook. All three
caught falling infants and children,
describing the sensation as “catching
basketballs”.
8. Captain Bowman went on to a full
career as a Marine pilot, retiring as a
Lieutenant Colonel. Tragically, 1st Lt.
Androscot lost his life in a training
accident a few years after his heroic
actions over Saigon.
9. KIRK’s normally robust flight deck
– well-capable of handling helicopters
equipped with wheeled landing gear –
proved to be no match for the wheel-less
landing skids of the many UH-1s. To
reposition the Hueys or to move them to
the edge of the flight deck for
jettisoning, as many as twenty-five KIRK
crewmen had to drag, bounce, and
physically shove each three-ton
helicopter across the non-skid deck,
severely damaging the high-tech abrasive
coating and deck-edge coaming.
10. Estimates of the number of
refugees embarked – either total “fleet”
figures or in individual ships – vary
widely. As an example, eyewitness
estimates from Vietnamese refugees
aboard the ill-fated HQ-402 placed the
total at “4,000″ or “5,000″. These
figures for HQ-402 are clearly
exaggerated, considering the small size
of the ship – barely 200 feet long, less
than half the length of KIRK – although
“thousands” is probably a supportable
rough estimate. Contemporary estimates –
both official and unofficial – of the
total number of refugees distributed
throughout the 32 ships of the formation
varied from 18,000 up to 35,000. Lower
numbers were quoted officially at the
time of the evacuation, presumably while
the U.S. State department was
negotiating with the Philippine
government for permission to land the
large numbers of now-stateless refugees.
It is now accepted that the actual
numbers were in excess of thirty
thousand refugees distributed among the
32 ships. Considering the chaotic nature
of the immediate evacuation effort, and
the political sensitivities involved,
such inaccuracies (unintentional or
deliberate) were perhaps inevitable, but
accurate census figures are probably
available today in the archives that
record the initial refugee settlement
efforts on Grande Island, in Subic Bay.
11. The frantic scramble of thousands
of panicking refugees from the sinking
HQ-402 caused two disturbing deaths. A
surge of Vietnamese quickly engulfed the
rickety planks laid between the two
ships. In the crush, a small child was
pushed off a plank and fell to her death
between the two ships. The panic of the
crowd was quickly escalating to
hysteria. Then in a jarring display of
“justice swift and sure”, a Vietnamese
sailor drew his pistol and shot the
young man who had shoved the child
overboard. Calm was restored, and the
transfer of the refugees was completed
in stunned silence.
12. TAN NAM VIET briefly captured the
news a few weeks later when it was
rumored that the otherwise unremarkable
coastal freighter was carrying the bulk
of the national treasury of South
Vietnam. It was a time of many such
rumors – few with any foundation.
13. Four thousand gallons of fresh
water was about 40 percent of KIRK’s
design total capacity, but after the
hectic pace of activities in the
previous days, potable water stores were
ebbing, and 4,000 gallons was the bulk
of the fresh water remaining aboard
KIRK. But HQ-03 and her thousands of
Vietnamese refugee men, women, and
children clearly had a pressing need for
all the water they could get. So fresh
water hoses were run across to HQ-03. It
was only after pumping 4,000 gallons of
the precious liquid into the tanks of
HQ-03 that KIRK’s engineers discovered
that HQ-03 always had plenty of water,
but her fresh water pump was out of
commission. Something had been lost in
translation, and this “failure to
communicate” meant that KIRK went on
“water hours” for an extended period to
allow her excellent – but hard working –
evaporators to catch up.
14. The rationale for consolidating
these at-risk pregnant women aboard KIRK
has been lost in the mist of time, but
it turned out to be an extraordinarily
good decision. Chief Hospital Corpsman
Burwinkel was not only an independent
duty corpsman, responsible for the
health and welfare of more than 250 KIRK
men, but he had coincidentally served a
previous tour in the maternity ward of a
large Naval Hospital. His pregnant
charges were in good hands.
15. Lan Tran and her KIRK volunteer
Don Cox have been reunited after more
than thirty years, and have become fast
friends.
16. The experiences of these men
could fill volumes. Coming from the
cleanliness, order, and predictability
of a U.S. Navy warship, few of these
KIRK men were prepared to witness the
overcrowded squalor that these patient
refugees were enduring. Following are
the KIRK “shipriders” and their assigned
Vietnamese ships:
Hull # Ship Name KIRK crew shipriders
HQ-01 Tran Hung Dao FTG3 W. S. Johnson and BTFA G. W. Malone
HQ-03 Tran Nhat Duat Mr. Richard L. Armitage
HQ-06 Tran Quoc Toan RMC L. Gassaway, ST1 T. A. Sievert, and Lucero
HQ-07 Dong Da II GMT1 T. J. Dixon and HT3 S. N. Hanenkrat
HQ-11 Chi Linh LT(jg) John S. Pine and BTFN R. J. Lalonde
HQ-12 Ngoc Hoi LT(jg) Scott J. Olin and SN G. E. Harrison
HQ-14 Van Kiep II LT(jg) Donald A. Swain and SA C. Richardson
HQ-16 Ly Thoung Kiet LT Frederick R. Sautter and ADJ2 R. G. Fisher
HQ-228 Doan Ngoc Tang GMGC H. M. Dilulo and TN3 F. L. Soderburg
HQ-229 Lu Phu Tho ADJC G. C. Bingham and STG3 E. W. Kirk
HQ-231 Nguyen Duc Bong SM1 H. W. Kenway and GMG3 J. R. Sanders
HQ-401 Han Giang LT(jg) Scott L. Steele and BTFN J. D. Scarrow
HQ-402 Lam Giang (Sunk)
HQ-404 Huong Giang ENS Bruce B. Davidson and OS2 T. D. Schultz
HQ-470 (unknown) IC2 T. A. Powell and EW2 P. E. Lawless
HQ-502 Thi Nai LT(jg) A. E. Porter and SA D. R. Carney
HQ-505 (unknown) LT L. E. Arcuri and ETR2 A. P. Gozdan
HQ-800 Huynh Van Cu ENS Robert A. Pennell and OS3 P. J. Burinskas
PGG-18 (unknown) EWC J. F. Willoughby and STG2 J. R. Wimbrow
Fishing Trawler #1 BTC J. D. Gornto and SA R. Bankston
Fishing Trawler #2 OSC D. T. Burlison and GMG3 G. N. Sanvig
Chuyện lá cờ VNCH trên tàu USS Kirk
Hà Giang/Người Việt Online Magazine
Trước lễ hạ cờ, các quân nhân trong binh
chủng Hải Quân VNCH chạy hết lên boong
tầu, đứng nghiêm làm lễ chào quốc kỳ và
hát quốc ca Việt Nam, vừa nghẹn ngào
khóc nh́n lá cờ màu vàng ba sọc đỏ thân
yêu, mà đến trước đó một tuần, họ sẵn
sàng hy sinh cả mạng sống để bảo vệ, từ
từ hạ xuống.
Xong
lễ hạ cờ, con tầu lặng yên, không
một tiếng động.
Đó
là một cảnh trong cuốn phim tài liệu
“The Lucky Few - The Story of USS Kirk”
(Những Người May Mắn - Câu chuyện của
USS Kirk) do Hải Quân Hoa Kỳ thực hiện
vào cuối năm 2010, kể lại chuyện chiếc
tầu USS Kirk và thủy thủ đoàn 260 người
giải cứu đoàn tầu Hải Quân VNCH và
khoảng 30,000 người tị nạn “may mắn” vào
ngày 30 Tháng Tư, 1975.
Đó
cũng chỉ là một cảnh tiêu biểu. Trên
thực tế cả 30 chiếc tàu của Hải Quân
VNCH đều cùng làm nghi lễ hạ cờ quốc gia
và kéo cao quốc kỳ Mỹ, một điều kiện cần
có để Philippines cho phép đoàn tầu vào
Subic Bay.
Ở
một cảnh khác, vị cựu đại tá Hải Quân
VNCH kiêm tham mưu phó hành quân Đỗ Kiểm
ngồi trước một lá cờ mầu vàng ba sọc đỏ
lớn, mắt đỏ hoe, kể lại biến cố lịch sử
đó trong cuộc đời quân ngũ của ḿnh:
“Hàng ngàn và hàng ngàn người trên
thuyền bắt đầu hát quốc ca (VNCH). Khi
lá cờ hạ xuống, họ đă khóc, khóc và khóc.”
Nói xong, ông chỉ vào lá cờ vàng ba sọc
đỏ phía sau lưng, mắt đỏ hơn:
“Chính là lá cờ này!”
Rồi ông nói thêm: “Đây là lá cờ đă
được hạ xuống. Tôi vẫn ǵn giữ cờ từ
ngày hôm đó đến nay.”
“Từ đó đến nay” đă gần 36 năm. Chuyện
xẩy ra vào ngày 6 Tháng Năm, 1975, gần
một tuần lễ sau ngày Sài G̣n thất thủ.
Không hiểu tại sao măi hơn 35 năm sau,
câu chuyện của USS Kirk mới được kể lại
bằng cuốn phim tài liệu. Chỉ biết trong
dịp 30 Tháng Tư năm nay, nhật báo Người
Việt và Little Saigon TV hănh diện đồng
bảo trợ, và tiếp tay chi hội Tây Nam của
Ủy Hội Liên Bang Mỹ-Á Thái B́nh Dương
(Federal Asian Pacific American Council
Southwest) trong việc quảng bá cuốn phim
tài liệu lịch sử này.
Tin tức về cuốn phim được phổ biến trên
trang blog của USS Kirk và Hải Quân Hoa
Kỳ. Cuốn phim lịch sử dài một tiếng
trong đó các nhân chứng sống có liên hệ
trực tiếp, hiện giờ đang ở khắp nơi, và
nguyên tác bằng tiếng Anh, cũng đă được
chia làm nhiều đoạn và tải lên You Tube.
Cuốn phim kể lại sự xoay sở rất tháo vát
của thủ thủy đoàn USS Kirk khi bất ngờ
phải thực hiện một sứ mệnh nhân đạo,
nhưng rất nguy hiểm, làm nhiều người xúc
động.
Một người Mỹ gốc Việt kư tên là Matthew
Lê, đă để lại lời b́nh trên blog của USS
Kirk:
“Nhận được cái You Tube link về The
Lucky Few do người bạn gửi cho bằng
email lúc sắp phải ra xe. Nóng ḷng nên
tôi bật lên, và v́ đang lái xe chỉ nghe
được âm thanh. Chỉ âm thanh thôi cũng
làm tôi khóc v́ xúc động, và phải vào
một băi đậu xe nghỉ một lúc. Thương Việt
Nam bao nhiêu th́ quư và nhớ ơn Hải Quân
Hoa Kỳ bấy nhiêu.”
(
Vào You Tube phần search đánh chữ lucky
few sẽ đưa bạn vào video clip )
Cuốn phim đă được Ủy Hội Liên Bang
Mỹ-Á Thái B́nh Dương chuyển ngữ ra
tiếng Việt, và sẽ được tŕnh chiếu
vào đúng ngày 30 Tháng Tư năm nay.
Bà
Sharon Nicholas, người Mỹ gốc Việt, tên
Việt Nam là Trang Uyên Nguyễn, giám đốc
điều hành của Ủy Hội Liên Bang Mỹ-Á Thái
B́nh Dương, chi hội Tây Nam, là người
trực tiếp chịu trách nhiệm cho việc
tŕnh chiếu cuốn phim, cho nhật báo
Người Việt biết phim sẽ được tŕnh chiếu
trong một chương tŕnh vào lúc 3 giờ
chiều Thứ Bẩy, 30 Tháng Tư, Garden Grove
High School Auditorium, Garden Grove.
VÀI BÚT KƯ HQ - THÁNG TƯ BUỒN
MẢNG ĐỜI TỴ NẠN
Mẹ
sinh tôi ra
vào năm Giáp Thân, 1944, nhưng sau
này làm lại giấy Thế V́ Khai Sinh th́
rút xuống hai năm cho đủ tuổi để xin
được vào học trường Chasseloup Laubat (
và đă trở thành trường Lê Quư Đôn sau
này). Sau khi đỗ Tú Tài hai ban B, tôi
nhẩy vào làm cho “sở Mỹ” nhờ biết tí
tiếng Pháp và tiếng Anh kha khá. Đồng
thời tôi cũng theo học tại Đại Học Sài
G̣n, Văn Khoa, Ban Anh Văn. Cơ quan “Sở
Mỹ“ tôi làm trực thuộc Ṭa Đại Sứ (TĐS)
Hoa Kỳ tại Sài G̣n, thuộc chương tŕnh
Phụng Hoàng.
Tôi xin nói sơ qua
về chương tŕnh hay kế hoạch Phụng Hoàng
để qúy bạn hiểu thêm:
Như các bạn đă từng
biết, sau sự chia cắt đất nước Việt Nam,
lấy con sông Bến Hải làm làn phân chia
Quốc-Cộng vào năm 1954, Cộng Sản đă để
lại ở miền Nam Việt Nam một số lớn cán
bộ nằm vùng. Mạng lưới này đă được bổ
xung thêm với nhiều cán bộ xâm nhập từ
miền Bắc vô vào những năm cuối của thập
niên ‘50, và sau nữa. Mạng lưới này là
cả một hệ thống hạ tầng cơ sở nằm vùng
và ẩn náu trong những vùng rừng núi gồm
có cả những đơn vị du kích địa phương,
kinh tài, ám sát, liên lạc viên, tuyên
truyền ... mà người Mỹ họ gọi là VCI (Việt
Cộng Infrastructure). Chúng bám vào
trong dân làm vùng sôi đậu, chúng nằm
nín hơ hoạt động lén lút nơi tỉnh thành,
chúng quấy nhiễu những đơn vị hành chánh,
cảnh sát, đắp mô, cài ḿn tạo thành
những nơi mất an ninh, chúng khủng bố,
ám sát nhân viên chính quyền địa phương
nếu có cơ hội ....
Để đối phó lại
những vấn nạn nêu trên, chính phủ VNCH
đă có những biện pháp như Ấp Chiến Lược,
kế hoạch Phụng Hoàng, và sau này là thêm
chương tŕnh Xây Dựng Nông Thôn ....
Phụng Hoàng (hay
chim Phượng) là một loài chim quư chỉ có
trong huyền thoại được dùng để đặt tên
cho một chương tŕnh đă được CIA hay Ṭa
Đại Sứ Hoa Kỳ đề ra, tổ chức (nhưng dấu
tên), huấn luyện, cố vấn, và tài trợ với
một ngân khoản khổng lồ. Trên danh nghĩa,
chương tŕnh (hay kế hoạch) Phụng Hoàng
được trực thuộc Cảnh Sát Quốc Gia Việt
Nam, nhưng những hoạt động như phục kích,
hay tấn công vào sào huyệt VC có nhiều
khi lại do chính quân đội Mỹ đảm trách
với những toán SEAL của Hải Quân hay
Green Beret của Bộ Binh. Nhiệm vụ của
chương tŕnh Phụng Hoàng là “lấy nhân
tâm để chống cường bạo”, nhưng chính là
để mong phá vỡ những ổ nằm vùng, du kích
địa phương, hay kinh tài VC qua những
những chương tŕnh như chiêu hồi, tuyên
truyền, phục kích, bắt cóc, khai thác
t́nh báo, có cả thâm nhập vào mật khu VC
và ám sát những cán bộ cao cấp CS nữa.
Như các bạn đă biết,
từ năm 1958 cho đến 1968, Cộng Sản chủ
trương xây dựng lực lượng bằng cách thâm
nhập người và vũ khí từ miền Bắc vào qua
các ngả đường từ Lào, Cam Bốt, và bằng
đường biển. Đồng thời chúng cũng bành
trướng các mật khu, củng cố và tăng
cường lực lượng du kích, nằm vùng, kinh
tài, khủng bố và ám sát nhân viên chính
quyền địa phương.
Đầu năm 1968 chúng
mở cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu-Thân sau
khi đă có một lực lượng chính quy với
những vũ khí tối tân như AK47, B40, B41,
xe tăng đủ để đương đầu với quân đội
Việt Nam Cộng Ḥa và Đồng Minh trên một
b́nh diện chiến tranh trận địa chiến.
Đồng thời trên mặt trận tuyên truyền,
báo chí, và ngoại giao của chúng trên
thế giới, nhất là tại Hoa Kỳ đă đủ chín
mùi, và mặt trận chính trị này hiện đang
cần một tiếng vang vọng đến từ miền Nam
Việt Nam để hỗ trợ cho những lời tuyên
truyền của chúng.
Tiếng vang “Tổng
Cộng Kích Tết Mậu Thân” này quả thực đă
đáp ứng đúng nhu cầu chính trị cần, và
quá đủ cho chúng tức thời. Tiếng vang
này đă được khuếch đại, và tận dụng tối
đa bởi các nhóm phản chiến tại Hoa Kỳ.
Đến năm 1969,
chương tŕnh Việt Nam Hóa chiến tranh
bắt đầu, th́ kế hoạch Phụng Hoàng cũng
đă được Việt Nam hóa, công việc của tôi
đâm ra bấp bênh! Có một hôm xem truyền
h́nh thấy có một sĩ quan Hải Quân diện
đồ trắng lên TV nói chuyện tuyển mộ sinh
viên sĩ quan Hải Quân coi bảnh bao quá.
Tôi bắt đầu để ư
đến quân chủng này, và càng nh́n thấy
những bộ đồ trắng lả lướt nơi bến tàu,
trên đường phố Sài G̣n tôi càng đâm ra
“mơ” làm người SVSQ Hải Quân.
Tôi t́nh nguyện
theo học khóa 20 SVSQ/HQ. Tôi được nhận,
tŕnh diện, và được lănh đồ quân trang
quân dụng. Tôi đă chính thức trở thành
Sinh Viên Sĩ Quan/Hải Quân/Khóa 20 với
cấp bậc đầu tiên là “Tân Binh” Nguyễn
Hữu Hải, số quân 66A702-430. Tôi gặp và
chơi thân ngay với các bạn cùng khóa như
Nguyễn Văn Đệ, Nguyễn Xuân Dục, Phan
Ngọc Long, Tôn Long Thạnh, Ngô Nguyên
Trực ....
Mặc dầu tạm trú tại
trại Bạch Đằng II, nhưng tôi ra vào cổng
Hải Quân như đi chợ v́ c̣n giữ giấy tờ
làm việc tại Ṭa Đại Sứ Mỹ. Ngày ngày
chúng tôi la cà lả lướt phố phường, và
lo tán gái. Chúng tôi lên Quang Trung
tập bắn , tập đi một hai ba bô..ố..ốn,
tập leo, tập trèo, tập chà láng, tập đi
băi, tập chạy “huỵch huỵch”, và vừa thở
hồng hộc vừa ḥ những bản nhạc hùng như
“Đường trường xa, con chó nó tha con mèo
...”. Cuối tuần chúng tôi đi bờ, lại la
cà, lả lướt, và tán gái tiếp tục.
Ra Nha Trang, trong
thời gian bị huấn nhục, tuy mệt mỏi v́
những buổi phạt hành xác, nhưng nhiều
khi thấy cũng vui vui v́ những tṛ đùa
như con nít. Để tránh bị “quay” tôi cứ
theo anh em lẩn vào trong đám đông, “ai
sao ḿnh vậy” và đừng có “ư kiến ư c̣
ǵ” là thoát được cái nạn bị “quay như
dế“ mà một số bạn đă bị gặp phải.
Thế rồi thời gian
bị huấn nhục cũng qua đi, sau lễ gắn
Alpha, và chúng ta được “đi bờ“. Sau khi
đi ăn uống cho thỏa thích sau những ngày
thèm khát, tôi mua một vài thứ lặt vặt
cần thiết như sira đánh giầy, dầu nóng
thoa bóp hiệu “Bom Solar“(?), kem đánh
răng ... tôi ghé nhà một người quen ở
gần ga xe lửa. Tôi nhận được một mảnh
giấy nhắn tin là có người quen trong Ṭa
Lănh Sự Mỹ thuộc Vùng II, ở số 6 đường
Duy Tân muốn gặp. Lần đi bờ kế tiếp, tôi
ghé Ṭa Lănh Sự Mỹ và người quen muốn
gặp tôi chính là ông “Boss” cũ làm trong
“Sở Mỹ“ của tôi, Philip C. Ross, mang
cấp bậc Đại Tá Green Beret. Ông Philip
bảo là: “ Đừng có hỏi là tại sao tôi đă
t́m ra được Hải; Tôi đă có lệnh thuyên
chuyển về Sài G̣n, tôi muốn bạn đi với
tôi về Sài G̣n ngay ngày hôm nay, mọi
trở ngại và giấy tờ của Hải tôi sẽ lo
liệu hết, đừng có lo chi cả!”
Thế là ngay buổi
trưa hôm ấy, chúng tôi theo Air America
về thẳng Sài G̣n. Tôi bỏ lại trong quân
trường mọi thứ và chẳng kịp báo tin cho
ai hết! Về đến Sài G̣n, Philip lấy xe
thả tôi về nhà, và dặn tôi lên tŕnh
diện ông ấy vào sáng thứ Hai tại Ṭa Đại
Sứ Mỹ cũ nằm trên đường Vơ Di Nguy, khu
Chợ Cũ Sài G̣n.
Sáng thứ Hai, sau
những thủ tục giấy tờ, tôi đă được
Philip chở đến một căn nhà nằm trên
đường Chi Lăng, Phú Nhuận. Đây là một
căn nhà “an toàn” (safe house) của Sứ
Quán Mỹ. Nơi đây tôi đă được huấn luyện
trong hơn hai tuần về t́nh báo, điệp
viên. Huấn luyện viên đa số là người
Việt, nhưng chỉ huy bởi những nhân viên
“cố vấn” của Ṭa Đại Sứ Mỹ. Trong số
những cố vấn này, có người đă từng xâm
nhập và hoạt động tại Đông Đức đến hơn
20 năm.
Từ năm 1968, kế
hoạch Phụng Hoàng được điều hành bởi ông
William E. Colby bên phía TĐS Mỹ. Ông
này trước kia đă từng hoạt động ở VN hồi
năm 1959 trong các chương tŕnh b́nh
định nông thôn và Ấp Chiến Lược. Từ năm
68 đến 70 th́ ông ta được “biệt phái”
làm “xếp lớn” kế hoạch Phụng Hoàng. Sau
này, vào năm 1973, ông ta đă từng nắm
toàn quyền cơ quan CIA, và ông ta đă bị
chết đuối trong một tai nạn khó tin
nhưng có thật vào năm 1996. Ông Colby là
“xếp” trực tiếp của Philip, “boss“của
tôi.
Sau khi măn khóa về
gián điệp này (tôi trở thành “zét không
không biết“ như trong truyện gián điệp
Z-28 vậy), tôi được bổ về làm “Sỉ Quan
Tham Mưu/Quân Khu II”, mang cấp bậc “đại
úy đồng hóa”, ăn lương do ngân sách
ngoại viện đài thọ, và được Nha Động
Viện Bộ Quốc Pḥng cấp cho “giấy tờ hợp
lệ t́nh trạng quân dịch“. Tôi chịu trách
nhiệm 12 tỉnh của Quân Khu II. Tôi đi
nhiều nơi như Quy Nhơn, Phú Yên, Khánh
Ḥa ...
Mỗi
một tỉnh có một đơn vị Thám Sát Tỉnh,
Provincial Reconnaissance Unit (PRU).
Mỗi một đơn vị Thám Sát Tỉnh như vậy th́
thường có khoảng 118 nhân viên, gồm có
đa số là VC hồi chánh, lính người Nùng,
một số nhân viên thuộc CSQG, và được chỉ
huy bởi một viên thiếu tá đồng hóa.
Tết
năm Mậu Thân, 1968, đa số các cán bộ nằm
vùng của VC xuất đầu lộ diện để mong
thực hiện “cuộc tổng nổi dậy của nhân
dân miền Nam”, hay bị lộ hành tung nằm
vùng. Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa và Ṭa
Đại Sứ Mỹ nhận thấy sự hữu hiệu của kế
hoạch Phụng Hoàng, nên tăng cường và cho
khuếch trương chương tŕnh này. Nhưng
sau này khi Việt Nam Hóa chiến tranh
được bắt đầu th́ chương tŕnh này đă trở
lại thành một thứ yếu đối với Chính phủ
Việt Nam Cộng Ḥa, và bị cắt giảm tối đa
tài khoản từ phía Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ.
Sau
hai năm làm việc th́ tôi bị “mất việc”.
Dùng giấy tờ hợp lệ t́nh trạng quân
dịch, tôi nạp đơn thi vào Học Viện Cảnh
Sát Quốc Gia tại Thủ Đức, và tốt nghiệp
Khóa 6 CSQG năm 1971. Sau khi tốt nghiệp
tôi đă được phục vụ tại Phi Cảng Tân Sơn
Nhất, sau đó là Sở Ngoại Kiều cho đến
ngày 30 tháng 4 năm 1975. Những ngày
cuối tháng Ba năm 1975, Sài G̣n sôi động
hẳn lên, và bị đe dọa với những áp lực
nặng nề sau những ngày gẫy đổ của Vùng I
và Vùng II. Ban ngày phải làm việc tại
Sở Ngoại Kiều, ban đêm th́ chúng tôi
phải tŕnh diện Bộ Tư Lệnh/Cảnh Sát Quốc
Gia để lănh súng đạn đi ứng chiến. Chỗ
tôi hay được cử đi ứng chiến là một
trường trung học Tàu trong Chợ Lớn, nằm
ở phía sau hăng bia BGI, nơi sản xuất
bia 33. Tuy t́nh h́nh nguy ngập đến thế,
nhưng mà chúng tôi vẫn c̣n mơ mơ màng
màng, chưa tỉnh. Chúng tôi thường chở
nhau vào Chợ Lớn ăn nhậu cho tới khuya
mới về trường để ứng chiến!
Đến
gần cuối tháng Tư năm 75, trong lúc đang
làm việc tại Sở Ngoại Kiều, th́ một nhân
viện TĐS Mỹ đến gần tôi, ngó quanh khi
không thấy ai, th́ nói nhỏ đủ để cho tôi
nghe: “chiều nay sau khi đi làm xong,
nhớ ghé nhà Trung tá Lạng, có chuyện rất
cần!” Ngay chiều hôm đó, tôi đến nhà
Trung tá Nguyễn Văn Lạng, cựu CHT/Thám
Sát Tỉnh (PRUs). Sau khi được người nhà
Tr/tá Lạng kín đáo dẫn lên lầu, tôi đă
thấy 7 hay 8 cựu cố vấn TĐS Mỹ ngày nào,
có cả ông xếp cũ của tôi là Philip C.
Ross nữa. Bill Tucker, một cố vấn cũ, đă
vỗ vai tôi mà nói:” Mầy làm ǵ mà cứ
làng sàng ra vào cổng Tân Sơn Nhất hoài
vậy?” Ông ấy tiếp lời: “Mầy đừng có lo,
dù chỉ c̣n một cái trực thăng, tao cũng
không bỏ mầy đâu!” Trong buổi nói
chuyện, tôi đă được biết là TĐS Mỹ đă
cho đốt hết những giấy tờ quan trọng
ngay từ tháng Ba, và đang cho di tản
những kiều dân Mỹ ra khỏi VN. Ông xếp cũ
của tôi nói:” Nếu mày muốn ra đi một
ḿnh, th́ tụi tao sẽ đưa mầy ra máy bay
ngay; nhưng nếu mầy muốn đem theo những
người thân th́ ngày mai hăy đến Đức
Hotel, nằm ở trước cửa trường Lê Qúy
Đôn, vào hỏi Richard, nó sẽ lo cho mầy.”
Mấy
ngày hôm sau, tôi và một anh bạn cũ cũng
đă làm cho TĐS Mỹ ghé Đức Hotel để gặp
Richard. Chúng tôi được biết là hiện có
hai chiếc tàu của Hoa Kỳ đang nằm ngoài
khơi Vũng Tàu, ḿnh phải đưa người nhà
ḿnh ra ngoài đó và sẽ được di tản bằng
tàu. “Hăy về chuẩn bị sẵn sàng, tôi sẽ
cho người liên lạc,” Richard hứa với
chúng tôi như vậy!
Sài
G̣n bắt đầu giới nghiêm từ 8 giờ tối.
TĐS Mỹ bắt đầu cho di tản những người
Việt làm cho sở Mỹ và thân nhân của họ.
Họ đă được chuyên chở bằng xe buưt vào
ṭa nhà của cơ quan DAO, đến đêm sẽ được
đưa ra khỏi VN bằng máy bay quân sự
C-130 và C-141. Trước cổng TĐS Mỹ ở
đường Thống Nhất, người ta xếp hàng,
chen lấn ngay từ sáng sớm để mang một hy
vọng là có một cơ hội rời khỏi VN…
Tôi
cũng đă giúp đưa được một vài người bạn
SQ/BB từ Phú Bổn, Tuyên Đức chạy về lên
máy bay. Khi máy bay đến, nhiều khi chỉ
có ba hay bốn chục người chờ để được đưa
đi, trong lúc máy bay có thể chứa được
ba hay bốn trăm người, cho nên bất kỳ
những ai đang hiện diện tại chỗ nếu muốn
đi là cứ việc leo lên máy bay là đi,
chẳng cần giấy tờ ǵ cả! Tôi không muốn
bỏ nhiệm sở trong những lúc đó.
Ngày 28 tháng 4 năm 1975, phi đạo Tân
Sơn Nhất bị pháo kích và máy bay Mỹ
không đáp xuống được nữa! Sáng ngày 29,
cuộc di tản của Mỹ được tiếp tục bằng
trực thăng. Trước cổng TĐS Mỹ nguời ta
chen lấn xô đẩy để cố chen vào phía
trong, tôi không thể nào làm như vậy
được nên tôi tính vào phi trường TSN xem
sao? Nhưng cũng không thể nào chen chân
vào được, v́ có cả ngàn người cũng đang
bu quanh cổng trại Phi Long! Những người
Quân Cảnh quen biết cũ đă được thay thế
bởi một Đại Đội QC từ Biên Ḥa về để bảo
vệ ṿng đai. Đưa giấy tờ họ không thèm
coi, và c̣n xua đuổi ḿnh như đuổi tà
vậy!
Măi
đến quá trưa, th́ tôi đă hết sức hoang
mang và quá mệt mỏi, nên về lại nhà ở
đường Trương Minh Giảng, tắm rửa và ngủ
vùi cho đến đêm. Đêm đến tôi trằn trọc
không ngủ được, đâu đó những tiếng súng
đ́ đẹt nổ, và tiếng máy bay trực thăng
vẫn tiếp tục nổ “phành phạch” trên bầu
trời.
Sáng ngày 30, tôi lấy xe Honda chạy một
ṿng: Sài G̣n hốt hoảng, Sài G̣n sợ hăi,
Sài G̣n như một con chim bị xập bẫy!
Nguời ta hoảng sợ, người ta hôi của từ
những căn nhà Mỹ mướn bỏ hoang. Lác đác
trên đường, một số lính Dù hay biệt kích
vẫn gh́m súng sau những gốc cây, ụ cát.
Đến gần trưa th́ được nghe lời kêu gọi
quân cán chính VNCH hăy bỏ súng đầu hàng
của TT Dương Văn Minh! Tối đến tôi lại
ṃ về nhà trên đuờng Trương Minh Giảng
v́ hoang mang đến tột cùng, và không
biết là ḿnh phải làm cái ǵ nữa!
Khoảng năm, sáu giờ sáng sớm ngày hôm
sau th́ đă nghe thấy tiếng đập cửa. Vừa
mở cửa ra th́, năm sáu tên mang AK47,
khăn xanh đỏ đeo ở tay ập vào, và bắt
tôi đứng úp mặt vào tường, giơ hai tay
lên cho chúng khám xét. Chúng bắt và dẫn
tôi ra nhốt ở trụ sở Nhân Dân Tự Vệ cũ ở
trong xóm. Chúng không cho tôi đem theo
bất kỳ một thứ ǵ hết, kể cả không cho
thay bộ đồ ngủ đang mặc trên người!
Nhưng bất ngờ một tuần lễ sau, th́ chúng
thả tôi ra và bảo “muốn đi đâu th́ đi.”
Sau này tôi mới biết là chúng chỉ là
những tên nằm vùng, và bọn theo đuôi “30
tháng 4” muốn bắt tôi để “chôm chĩa” của
cải vậy thôi.
Sau
khi đuợc tha, tôi “ṃ” đến nhà một anh
bạn thân trước làm cho hăng máy bay
Pacific AirLine. Chúng tôi cùng nhau đi
xuống Rạch Giá, với hy vọng là sẽ liên
lạc lại được với những người quen trước
ở tại khu Cai Sắn.
Đến
Rạch Giá, chúng tôi đă t́m ra được một
người quen, trước là một thiếu tá Cảnh
Sát tại Phan Thiết. Theo lời th́ anh ta
đă có mua được một chiếc tàu, và có giấy
phép của Ủy Ban Quân Quản VC cho phép
tàu đi Phú Quốc để tiếp tế cho đồng bào
tỵ nạn từ miền Trung về, hiện đang bị
đói ở ngoài ấy. Anh ta bảo chúng tôi hăy
mua vé như b́nh thường và dặn là “ḿnh
sẽ đổi hướng đi Thái Lan khi trên đường
ra Phú Quốc.”
Sau
khi đă mua vé đi Phú Quốc xong, chúng
tôi xuống tàu khoảng 2 giờ chiều. Tôi
thấy rất nhiều người có máu mặt tại Sài
G̣n đă ở sẵn trên tàu như vợ chồng chủ
hăng giầy Cogimoco, chủ và gia đinh hăng
bột ngọt Vi Phong nên cũng thấy yên tâm.
Ngồi chờ khoảng hơn một tiếng đồng hồ
th́ tàu nổ máy, tháo dây, và khởi hành.
Nhưng vừa mới xa bờ có khoảng chừng 100
thước th́ nghe thấy có một vài tiếng
súng nổ! Hai bên hông tàu thấy xuất hiện
hai chiếc ghe, lố nhố mấy chục tay súng
AK. Họ nhẩy qua tàu chúng tôi, bắt mọi
người đứng thẳng, giơ tay khỏi đầu và
chịu sự khám xét. Chúng lục túi, lục
người, và đồ đạc của chúng tôi. Chúng đổ
ra sàn tàu cả một đống vàng lá, ṿng
vàng, nhẫn vàng, đồng hồ, và cả một lon
lớn hột soàn (kim cương). Có một người
nhẩy “ùm” xuống nước để mong lẩn tránh,
nhưng những cây AK đă thi nhau “nhả“ đạn
theo. Không thấy anh ta trồi lên, nhưng
máu đỏ nổi lên, loang ra cả một vùng
biển. Cho đến giờ phút này mà tôi vẫn
chưa quên được cái cảnh hăi hùng đó.
Chúng chặt dây thừng trên tàu và trói
chặt hai tay chúng tôi về phía sau lưng.
Từng nhóm mười người chúng tôi được
chúng đưa qua ghe để chở về nhốt ở giữa
sân vận động Rạch Giá. Từng nguời một,
chúng tôi bị khám xét lại. Trong túi của
tôi c̣n dấu được năm tờ giấy 100
dollars, và một vài chỉ vàng, nhưng ở
dưới vớ của tôi cũng c̣n dấu thêm được
300 dollars nữa. Tôi thấy tên bộ đội
đứng canh gần chỗ tôi ngồi, coi có vẻ
sáng sủa. Tôi hắng giọng cho hắn chú ư,
và bảo nhỏ “trong túi tôi có ít vàng và
tiền đô, lấy đi.” Nghe thấy thế hắn kêu
tôi đứng qua một bên, lấy vàng và tiền
trong túi tôi xong, hắn kín đáo cất vào
túi và quát to “anh này đă khám xong,
ngồi qua bên này.” Nhờ thế mà tôi c̣n
giữ lại được 300 đô, đúng là ông bà ta
đă nói “đồng tiền đi trước là đồng tiền
khôn.”
2.)
Chuyện người tù Cải Tạo Nguyễn Hữu Hải:
Ngay chiều ngày hôm đó chúng tống chúng
tôi vào khám lớn Rạch Giá. Một hai ngày
sau th́ số người càng ngày bị bắt, nhốt
vào chỗ chúng tôi càng đông. Đa số là
dân từ Sài g̣n xuống, và nhiều người vừa
mới đến bến xe, đứng lớ ngớ là bị bắt
liền! Chúng không cho chúng tôi thức ăn,
người nào có tiền th́ gửi mua từ bên
ngoài. Một vài người Hoa trong tù cũng
đă mở ngay quầy hàng bán lại cho bạn tù
những bịch nước đá, thuốc lá, chuối,
bánh ḿ không ăn với đường.
Chúng nhốt chúng tôi được khoảng hơn một
tuần lễ, trong lúc chúng tôi đang nằm
chờ giất ngủ, hay ngồi quanh tán gẫu th́
bất ngờ đèn đuốc bên ngoài được tắt
ngóm, tiếng chân chạy rầm rập bên ngoài
pḥng giam. Chúng tôi ngạc nhiên, hồi
hộp, và thắc mắc không biết chuyện ǵ đă
xẩy ra? Khi cửa pḥng giam mở ra, chúng
tôi đă thấy sẵn hai hàng lính VC với
gương mặt cô hồn các đảng, súng AK 47
lăm le như sẵn sàng nhả đạn.
Viên chỉ huy gằn giọng:” Tất cả những
người ở đây đều là tù binh, nhất cử nhất
động đều phải xin phép, ai mà chống đối
cách mạng sẽ bị xử bắn tại chỗ.” Hắn
tiếp lời:” Nào, bây giờ bắt đầu đếm số
từng người một, từ một đến mười, ai đếm
xong, bỏ hai tay lên đầu và bước ra khỏi
cửa.” Đứng gần nơi cửa, tôi vội hô to:”
Nguyễn Hữu Hải, số một.” Tôi để hai tay
lên đầu và bước vội ra khỏi cửa để tránh
cái không khí ngột ngạt hôi hám bên
trong pḥng giam.
Cứ
mười người chúng tôi là đủ toán, và được
dẫn độ ra những chiếc xe bít bùng đậu
bên ngoài. Người ta đứng bu quanh bên
ngoài hàng rào, có tiếng gọi nhau ơi ới
chắc là thân nhân của những người bị
nhốt. Tôi nghe loáng thoáng có người
nói:”Họ đưa các ông đi nhốt chỗ khác.”
Chúng tôi ngồi trên xe, cố gắng vạch
những tấm vải bố lên để mong nh́n ra
ngoài xe, nhưng vô vọng!
Sau
khi đă di chuyển tụi tôi lên hết trên
xe, th́ xe bắt đầu lăn bánh. Và xe chạy
ḷng ṿng một hồi th́ đến Tắc Cậu, trời
đă rạng sáng. Chúng tôi được chuyển
xuống những chiếc ghe bầu tại Tắc Cậu,
bên ngoài thị xă Rạch Giá. Ghe khởi hành
và chạy vào sông Cái Lớn, hướng về phía
những khu rừng U-Minh. Ghe chạy đến
khoảng trưa th́ tấp vào bên bờ sông, tên
chỉ huy ghe chúng tôi nói:“Yêu cầu cởi
bỏ hết giầy dép, bỏ lại hành lư lỉnh
kỉnh nặng nề trên ghe, tất cả phải rời
khỏi ghe.”
Không thấy bờ đất đâu, chỉ thấy những
cây tràm cây đước mọc từ dưới nước lấp
xấp mọc lên! Chúng tôi lục tục nhẩy ra
khỏi ghe, leo xuống, nước ngập ngang đầu
gối. Chân không mang giầy vớ, chúng tôi
rụt rè, cực khổ lội nước buớc đi những
bước chân trần trên x́nh lấy. Đi giầy
dép đă quen, đi chân đất cũng đă thấy
đau và khó chịu rồi, nay phải lội trên
x́nh lầy. Những cành cây mục, vỏ trai vỏ
ṣ, hay rễ cây duới x́nh đâm cắt vào
chân chúng tôi, đau lắm! Mỗi một lần đạp
chân xuống là tôi thấy đau nhói tận tim
óc ḿnh. Chúng dẫn chúng tôi cứ như thế,
khoảng gần một tiếng đồng hồ sau th́
chúng tôi đến một con đường đất đắp cao.
Đến
gần chiều tối th́ chúng tôi đă thấy nhà
cửa lác đác, dân chúng đứng bên đường
nh́n chúng tôi với con mắt hằn học;
“Đ.M. bắt được hết bọn tù, hàng binh
rồi,” và họ nguyền rủa:” Đ.M. nhốt tụi
nó mút chỉ cà na cho tao!” Chúng bắt
chúng tôi tiếp tục lê bước cho tới tối.
Trời tối đen như mực, chúng tôi phải vịn
vào vai nhau mà đi. Chúng tôi không dám
bỏ tay rời người đi trước. Trời tối đen
đến nỗi không nh́n thấy cả người đi
trước ḿnh nữa, nên nhiều khi có người
bị hụt chân chúi xuống th́ những người
sau ngă đè lên, hay không may bị chậm
lại th́ những nguời đi sau dồn cục lại!
Chúng tôi cũng không dám bỏ trốn đi v́
biết chắc từ lúc ban ngày là chung quanh
chúng tôi toàn là rừng tràm rừng đước,
người dân không có thiện cảm, thiếu điều
c̣n sợ bị bỏ rơi lại nữa!
Chúng tôi cứ thế lầm lũi, người trước
dắt díu người sau mà đi theo tụi dẫn
đường. Chúng tôi mệt mỏi qúa đỗi, chúng
tôi đói khát ghê hồn, chúng tôi lần ṃ
như những tên ăn mày mù ḷa. Một hồi
sau, chúng tôi đến được một trạm xá ở
sâu trong rừng. Chúng tôi được dừng lại,
mỗi người được phát cho một chén cháo và
mấy hạt muối. Tôi đói quá, và mệt quá.
Húp vào tí cháo, thấy tỉnh hẳn nguời.
Lần đầu tiên trong đời, tôi đă thấy
miếng cháo lơng bơng nấu bằng gạo lứt ăn
với tí muối nó ngon đến như thế. Nó ngọt
tới tận chân răng đầu lưỡi, nó ngọt tới
tận con t́ con vị. Tí muối hột đă khích
thích cái mồm miệng lạt lẽo đắng ngắt
của tôi được hồi sinh, hạch nước miếng
của tôi đă được nó kích động mạnh mẽ. Ăn
hết tí cháo, tôi vẫn c̣n thèm; tôi vét
sạch tí nước cháo c̣n quện dưới đáy
chén; tôi tiếc măi là ḿnh đă ăn vội và
nhanh quá, chưa kịp nhai kỹ để tận hưởng
cái vị ngon ngọt của gạo! Sau đó chúng
chia cho chúng tôi cứ mười lăm người th́
vào một căn cḥi thấp lợp bằng lá dừa.
Những căn cḥi này thấp lắm, chúng tôi
chỉ có thể đứng lum khum mà không thể
nào đứng thẳng người được! Chúng phát
cho mỗi người một cái “tỉn” cũ đựng nước
mắm, dùng để phóng uế trong đêm. Chúng
hăm he:”Tuyệt đối cấm nói chuyện, ngủ
đi.”
Hai
ḷng bàn chân tôi rêm nhức v́ những vết
cắt, cứa, xây xước khi phải lội śnh lầy
và đi bộ. Quá mệt mỏi, đói và lạnh, tôi
ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau, khi nghe
tiếng “kẻng” và tiếng loa phóng thanh
lanh lảnh:” Sẽ có người đến mở cửa, và
tất cả mọi người phải đi ra ngoài làm vệ
sinh.” Tôi sách cái tỉn của tôi đi theo
mọi người lần ṃ theo những cây cầu khỉ
ra b́a rừng để đổ chất thải xuống śnh.
Chúng tôi được nghỉ ngơi mấy ngày th́ bị
kêu tập họp, đưa lên hội trường. Hội
trường là một khoảng đất trống, rộng, có
mấy chục cái băng ghế dài đóng bằng cây
tràm. Chúng nói: ”Đây là chỗ học tập cải
tạo của các anh, khi nào mấy anh học
thuộc những bài học này,” chúng dụ dỗ và
khích bác hay mỉa mai:” có mấy bài ấy
mà, th́ các anh sẽ được trả tự do, về
sum họp với gia đ́nh.” Tôi vẫn c̣n nhớ
những bài học của chúng như sau:
Bài
học thứ nhất: Lao động là vinh quang;
Bài
học thứ hai: Đế quốc Mỹ là con đỉa hai
ṿi, một ṿi hút máu nhân dân ta, một
ṿi hút máu nhân dân thế giới.
Bài
học thứ ba: Ngụy quân là cha đẻ ngụy
quyền.
Bài
học thứ tư: Ngụy quyền là tay sai cho
ngụy quân để đàn áp nhân dân ta.
Bài
học thứ năm: Ba gịng thác cách mạng.
Bài
học thứ sáu: Chính sách mười điều bảy
điểm của Mặt trận Giải phóng Miền Nam.
Bài
học thứ bảy: Vùng kinh tế mới.
Chúng tiếp lời:”Đó là những bài các anh
sẽ phải học, nhưng việc đầu tiên các anh
phải học là nội quy của nhà trại. Nội
quy nhà trại như sau:
Không được giữ những ǵ bén nhọn;
Nhất cử nhất động phải xin phép;
Kể
từ bây giờ các anh phải kêu ban quản
giáo là ông bạn và xưng tôi;
Khi
gặp ban quản giáo đi tới, các anh phải
bỏ giáo mác xuống và quay mặt vào tường;
Khi
nói chuyện với ban quản giáo th́ phải
đứng cách xa ba thước;
Không được gọi các anh bộ đội là cháu,
dù rằng các anh bộ đội này chỉ bắng tuổi
các con cháu các anh. Lư do các anh bộ
đội tuy nhỏ tuổi nhưng có công với cách
mạng, chống Mỹ cứu nước chứ không như
các anh chỉ “ngồi mát ăn bát vàng;”
Các
anh phải học thuộc ḷng bài quốc ca là
bài “Mặt trận giải phóng Miền Nam.”
Sau
đó chừng vài ngày th́ chúng tôi bị bắt
đi lao động, chặt cây rừng về để cất
tiếp nhà trại, chỉ tiêu là mỗi nguời
phải mang về hai cây. Tôi được biết thêm
là nơi đây đă là một nhà tù của VC để
nhốt tù binh VNCH trước năm 1975. Người
hướng dẫn chúng tôi cách sinh hoạt của
trại tù là một anh trung si bị bắt từ
năm 1973. Anh ta cho biết: “những tù
chung với anh từ cấp úy trở lên đă bị
dẫn đi mất biệt rồi! Chúng thủ tiêu tù
bằng cách bẻ cổ mà không bắn sợ tốn đạn
hay sợ tiếng nổ gây sự chú ư!” Tôi học
cách đốn cây, và cách đưa cây về trại.
Buổi sáng thức dậy theo tiếng kẻng; buổi
chiều đi ngủ bằng tiếng kẻng… Tiếng kẻng
đă ám ảnh tôi đến tận bây giờ! Cái âm
thanh sắc lạnh đó đă từng chi phối nếp
sống và cuộc đời tôi trong giai đoạn đó
thật là kinh khủng!
Đến
khoảng tháng thứ tư là chúng tôi được
viết thư về cho gia đinh và thân nhân để
được đi thăm nuôi. Trong chuyến thăm
nuôi đầu tiên, tôi có tên trong danh
sách. Nghe tên được kêu, tôi đă chạy như
bay đến nhà thăm nuôi. Chỗ thăm nuôi là
một cái lều bằng lá, không có vách; bên
trong đặt năm hay sáu cái bàn dài. Thấy
mẹ tôi và cô em gái lần ṃ đi thăm tôi.
Tôi ngồi một bên bàn, bên kia là mẹ và
cô em gái, và ngồi ngay nơi đầu bàn là
một tên bộ đội với cặp mắt cú vọ vờ vịt
ngó quanh ngó quất, nhưng hai tai lắng
nghe không bỏ xót một tiếng nào!
“Con có đói không?” Mẹ tôi mở lời;
“Không, con không có đói, ở đây đă có
cách mạng lo cho đầy đủ.” Tôi nghiêm
nghị nói dối như vậy, rồi vội tiếp lời”
Mẹ gởi cho con một ít quần áo cũ, quần
áo con rách hết cả rồi!” Cứ như thế với
những câu vô thưởng vô phạt đă được trao
đổi giữa mẹ con chúng tôi. Mẹ tôi nắm
lấy đôi bàn tay tôi, bà bóp nhẹ đôi bàn
tay chai cứng để thông cảm với nỗi bất
hạnh của tôi cũng như của bà, và của
toàn thể những người dân miền Nam đă bị
rơi vào tay CS. Giờ thăm nuôi chỉ có 30
phút ngăn ngủi. Mẹ và em tôi bịn rịn
nh́n tôi thất thểu đi về trại. Tối đến,
chui vào mùng, tôi khui ra và nhâm nhi,
tu hết một lon sữa đặc có đường mà mẹ và
em tôi mới mang cho hồi chiều. Vị ngọt
của đường của sữa sao mà nó ngon, nó
ngọt đến như thế! Tôi nhẩn nha nằm trong
mùng mà tu lon sữa, nhớ lại h́nh ảnh mẹ
và em tôi hồi chiều, tôi cảm động và tủi
thân đến chảy nước mắt. Chắc các bạn
khác trong trại tù th́ cũng giống như
tôi thôi. Nói về muỗi th́ các bạn đă
từng phục vụ tại Năm Căn, Cà Mau, hay
trong vùng U Minh Thượng đều đă gặp phải
cái nạn này rồi! Muỗi nó nhiều vô kể, và
nó háu đói vô cùng! Tiếng vo ve của nó
đúng là như sáo thổi trong câu ca dao
của ḿnh “muỗi kêu mà như sáo thổi, đỉa
lềnh tựa bánh canh.” Nhiều khi ngay ban
ngày ban mặt mà nó cung tấn công đốt
ḿnh, c̣n ban đêm th́ khỏi phải nói!
Trời vừa hơi xập tối là chúng đă kéo ra
từng đàn, từng đàn. Bạn chỉ cần mặc một
cái áo mỏng, không cần phải mỏng như cái
áo thun lá, ngồi một chút ngoài mùng
thôi, là lưng của bạn đă bị chúng bâu
đen đặc rồi, vuốt tay qua lưng vải áo
một cái là bạn đă thấy tay ḿnh đỏ thẫm
mầu máu của chính ḿnh do muỗi hút rồi!
Đời
sống trong trại tù nó khổ cực như vậy
đó, nhưng mà t́nh cảm giữa anh em bạn bè
th́ lại rất là thân thiết. Có một câu
chuyện mà tôi c̣n nhớ măi, có một hôm
“nhà trại” nói: “các anh học tập tốt,
nhà trại sẽ cho mổ một con heo, anh nào
biết làm heo th́ xung phong đi làm.” Tôi
có anh bạn tên Mai Hữu Lư, sau này anh
ta bị chuyển trại ra ngoài Bắc và không
biết sống chết thế nào, t́nh nguyện đi
mổ heo. Buổi trưa, anh ta dấu mang về
được mấy miếng thịt heo sống cho chúng
tôi “bồi duỡng.” Mấy miếng thịt heo bầy
nhầy, có tí thịt, nhiều mỡ, và tí da…Mấy
đứa chúng tôi chia nhau ăn. Ăn vào có
chất mỡ, chất thịt nó bùi, nó béo, nó
ngon làm sao đâu ấy, tỉnh hẳn cả người.
Nhưng sáng sớm ngày hôm sau, tôi và một
vài anh em ăn miếng thịt heo ngày hôm
qua đă thấp thỏm cả đêm để chờ được mở
cửa, là chúng tôi chạy nhanh lên “nhà
đội”:
“Tŕnh anh bộ đội, cho tôi xin phép được
đi cầu.”
“Ừa.”
“Tŕnh anh bộ đội, cho tôi xin được phép
đi tắm.” v́ đêm qua đă “văi” cả ra quần!
Ôi
miếng thịt heo có tí mỡ tí da đă làm khổ
chúng tôi. Trong lúc tôi đang tắm th́
phía nhà cầu bị xụp đổ v́ quá nhiều
người ngồi! Thật là kinh khủng, mười mấy
anh em bị xụp xuống cái hố cầu tiêu, lúc
nhúc ruồi bọ!
Tôi
ở khu “A”, trại nhốt tù quân sự, có
khoảng 500 tù nhân có cấp bậc từ Đại úy
trở xuống. Tôi đă gặp lại Trung úy Rượi,
Đại đội trưởng khóa sinh Trần B́nh Trọng
ở TTHL Quang Trung, và anh Nguyễn Văn
Hải, Trung úy HQ không biết thuộc khóa
nào, cùng bị nhốt chung. Thấm thoát đă
gần hai năm th́ tôi được chuyển trại
xuống khu “B” dành cho “ngụy quyền” gồm
những nhân viên hành chánh như phó tỉnh
trưởng, quận trưởng, xă trưởng, trưởng
ấp, nhân viên CSQG… Tôi nhập “tổ cơm”
với các bạn CSQG như Trần Thanh Thông,
Trần Tài Xuân (hiện đang làm chủ một nhà
hàng tại San Jose), Lưu Qúy Tùng, Nguyễn
Long An để cùng nhau “học tập tốt, lao
động tốt”. Nhưng “không phải các anh học
tập tốt là các anh được về đâu, không
phải các anh lao động tốt là các anh
đuợc về!” Mà chỉ “khi nào cách mạng thấy
các anh tốt là cách mạng tự nhiên tha
cho các anh mà thôi.” Chúng c̣n lên
giọng:” Nói thật với các anh như thế này
nhé, trong số các anh có người ba năm
th́ được tha về, có người ba mươi năm
th́ về, nhưng cũng có người râu dài tới
rún cũng chưa được về nữa!” Chúng c̣n
hăm he:”Chỉ khi nào thành thật khai báo,
th́ mới được cách mạng xét lại.” Tóm lại
là không biết đến bao giờ mới gọi là tốt
cả! Nhưng chỉ hơn hai năm sau, th́ tôi
đă t́m ra chân lư thế nào là tốt rồi.
“Xin ông bạn cho tôi đi về, tôi sẽ biếu
ông bạn hai cây vàng.” Tôi nói;
“Anh Hải, tôi thấy anh học tập tốt rồi
đó, mà sao bây giờ anh lại dám hối lộ
cách mạng hả?, anh muốn hủ hóa cán bộ
hả?”
“Không thưa ông bạn, tôi không dám hối
lộ cách mạng hay hủ hóa cán bộ đâu, tôi
chỉ biết ơn ông bạn một cách cụ thể.”
Tôi đă trả lời như vậy, và quả y như
rằng, một tuần lễ sau là tôi đă được gọi
lên nhà trại nhận giấy trả tự do.
3.)
Nguyễn Hữu Hải và chuyện Vượt Biên:
Sau
khi đă được mẹ tôi mang xuống “cúng” cho
tụi quản giáo hai “cây vàng”, tôi được
trả tự do khoảng một tuần lễ sau đó. Cả
nhà tôi mừng rỡ, mẹ cho mua “chui” ngay
một con gà mái to để ăn mừng, và đồng
thời cho tôi được ăn lại những món ngon
mà bấy lâu nay tôi vẫn hằng mơ tuởng.
Ngay sáng ngày hôm sau, tôi phải ra
tŕnh diện tổ trưởng, và dĩ nhiên là
phải có tí quà cáp gọi là làm đầu câu
chuyện. “Anh cứ về nhà nghỉ ngơi cho
khỏe, rồi sẽ có người đến kêu đi làm
công tác thủy lợi.” Hắn bảo tôi như vậy.
Tôi ừ ào cho qua chuyện, rồi đạp xe “ṃ”
vào tận Chợ Lớn, t́m coi mấy tên đệ tử
cũ người Hoa có c̣n ở lại hay không? Mấy
nguời này gặp lại tôi họ rất mừng rỡ, có
người giúp đỡ tí tiền nong, có người dẫn
đi làm việc cho một “Cơ Xưởng Vật Tư Kỹ
Thuật” để khỏi phải đi thủy lợi. “Ông
thầy cứ đi làm b́nh thường, nếu cần thêm
tiền bạc th́ cho chúng tôi biết, sẽ lo
cho ông ngay;” Họ ân nghĩa bảo tôi vậy.
Cũng nhờ vậy mà tôi có được cái giấy
“chứng nhận công nhân viên”, và tôi đă
có thể “mày ṃ” ra Phan Thiết nhiều lần
để đi t́m đường vượt biên. Thằng em ruột
của tôi (Nguyễn Anh Tuấn, SQ/KT Không
Quân) và hai cô em gái của tôi cũng đă
nhờ những chuyến đi móc nối này mà hiện
nay đang định cư bên Ḥa Lan.
Mấy
tháng trời sau khi được thả ra tôi đă
không dám ngủ ở nhà một đêm nào! Chỉ sợ
đêm khuya chúng nó đến gơ cửa mà bảo
rằng “Ở đây phường khóm chưa thấy anh
học tập được tốt, anh phải đi học tập
cải tạo thêm nữa!” Tôi đă được nghe có
rất nhiều trường hợp xẩy ra như vậy. Ban
đêm, mỗi một lần nghe có tiếng chó sủa,
là tim tôi lại thót lên, và chuẩn bị leo
tường lánh mặt. Tôi luôn luôn thay đổi
chỗ ngủ, nay th́ ở nhà mẹ tôi bên Trần
Quang Diệu, mai nhà cô em ở bên Trương
Quốc Dung, hoặc mốt ở nhà cô em khác bên
đường Trần Quốc Toản. Trong thời gian
này tôi có “làm quen” được với một em
gái “hậu phương”, nhưng em gái hậu
phương mặn mà này lại là một “đồng chí
nữ“ công an, làm việc bên Phường. Khi
nào cần phải đi đâu là tôi đă được em
gái hậu phương này “cấp” ngay cho một tờ
giấy phép đi đường. Sau này tôi cũng đă
lo tṛn cho “cô em” t́m được một đường
vượt biên, và hiện nay đang sống bên
Tây. Cũng nhờ vậy mà tôi đă nhiều lần ṃ
lại xuống tận Tỉnh Rạch Giá, vào tuốt
đến những con Kinh Láng thứ 10 hay 11.
Cũng v́ bỏ ngang qúa sớm cái mộng làm sĩ
quan Hải Quân, nên tôi chẳng rành thế
nào là tránh cồn, tránh cạn, con nước
lên con nước xuống, hay sóng ngang sóng
ngược… “Ông Ba Huệ”, đang làm tài công
cho một chiếc ghe quốc doanh ở vùng Rạch
Giá, đă chỉ cho tôi cách điều khiển, và
huấn luyện cho tôi lái ghe. Chiếc ghe
quốc doanh này c̣n rất tốt, với dàn máy
Yan Ma, đầu bạc. Chúng tôi thường kéo
nhau đi uống ruợu, rồi khi về kéo theo
mấy “em út” xuống ghe “lén nhẩy đầm” cho
tới khuya.
Rồi
một ngày đẹp trời đă đến, những người
bạn Hoa Kiều này đă tổ chức xong một
đường dây vượt biên, có băi đáp đàng
hoàng. Họ giới thiệu tôi với anh Nguyễn
Văn Dũng, cựu thiếu tá HQ (không biết
khóa mấy) mới được thả ra khỏi trại học
tập, và anh Nguyễn Văn Trợ, một trung sĩ
CK/HQ. Chúng tôi xuống Rạch Giá được
đúng có một tuần th́ được lệnh ra khơi,
có hai chiếc ghe công an biên pḥng hộ
tống. Ghe chúng tôi mang số KG-0178, có
chiều dài khoảng 25 thước, và 4 thước
rưỡi chiều ngang. Trên đường ra cửa
biển, hai ghe công an này đă bắt chúng
tôi ngừng lại nhiều lần để đổ thêm người
của chúng lên ghe chúng tôi. Chúng dẩn
chúng tôi ra khơi hưóng về phía Thái
Lan. “Đă đến hải phận Quốc Tế rồi, chúng
tôi phải quay về, các ông bà, cô bác
không c̣n cần dùng tiền Việt Nam nữa,
yêu cầu cho chúng tôi xin;” Nói xong
chúng cầm chiếc nón lá đưa ra, và chỉ
một loáng sau là chiếc nón lá được trả
về với đầy tiền. Đa số là giấy 50
dollar, và đó là những tờ giấy lớn nhất
thời bấy giờ. Chúng chúc chúng tôi ra đi
thượng lộ b́nh an, và quay tàu về lại
hướng bờ biển Việt Nam.
Ghe
chúng tôi tiếp tục nhắm hướng Thái Lan
đi thêm chừng hơn nửa ngày nữa th́ thấy
thấp thoáng có hai chiếc ghe. Hai chiếc
ghe này mang số Thái Lan; họ ra hiệu cho
chúng tôi chạy chậm lại và cập vào bên
hông. Tôi làm đại diện nhẩy qua ghe của
chúng. Tên chủ ghe nguời Thái biết tí
chút tiếng Anh. Sau một hồi nói chuyện
mỏi tay, tôi hiểu được ra rằng chúng
muốn chúng tôi trả tiền cho chúng, rồi
chúng sẽ hướng dẫn chúng tôi vào đến tận
SongKla. Tôi về tàu tŕnh bày lại với
chủ ghe và mọi người trên ghe của tôi,
mọi nguời đồng ư và gom góp lại được
mười ngàn dollars ($10,000) giao cho
chúng. Chúng mang qua cho chúng tôi 2
thùng cá, mấy can nước ngọt, và ra hiệu
cho chúng tôi chạy theo chúng. Ghe chúng
tôi chạy theo ghe của chúng cho đến hết
đêm, và vào sáng ngày hôm sau th́ chúng
tôi đă thấy hiện ra ba ḥn núi nơi xa
xa. Chúng bảo hướng đó là SongKla, vẫy
tay cho chúng tôi tiếp tục chạy về hướng
đó, và chúc chúng tôi may mắn.
Nhưng may mắn đâu không thấy, mà sau đó
chúng tôi chỉ thấy những bất hạnh dồn
dập đổ xuống ghe của chúng tôi mà thôi!
Thoạt tiên chúng tôi thấy xuất hiện hai
chiếc ghe Thái Lan khác đang xả máy tiến
về phía chúng tôi; chúng cập vào hai bên
lườn tàu. Một số nhẩy qua ghe chúng tôi,
chiếm pḥng lái, kê súng vào đầu tài
công. Chúng đập phá pḥng lái, lấy mất
hải đồ và la bàn. Chúng chĩa súng vào
đám nguời tỵ nạn khốn khổ chúng tôi, bắt
những người đàn ông thanh niên phải bước
qua ghe của chúng ở phía bên tay trái,
c̣n đàn bà con gái th́ phải leo qua ghe
phía bên tay phải. Chúng lục xoát ghe
chúng tôi, phá bung những hành lư chúng
tôi mang theo để ăn cướp những món đồ có
giá trị như vàng hay tiền bạc... Đồng
thời chúng cũng khám xét chúng tôi từng
người một để vơ vét đồng hồ, nữ trang,
hay tiền bạc mang giấu trong ḿnh. Chúng
cũng không quên làm hỗn những phụ nữ và
con gái! Ghe chúng tôi lênh đênh giữa
biển khơi, dập dềnh với sóng nước, và
làm mồi cho lũ hải tặc. Cứ như thế, tuần
tự có cả thẩy mười hai ghe hải tặc trong
ngày đă đến thay nhau cướp phá ghe tỵ
nạn của chúng tôi! Có lẽ chúng đă gọi
báo cho đồng bọn để thay phiên đến làm
thịt chúng tôi cho đến xác sơ, tơi tả!
Ngay sáng ngày hôm sau, một chiếc ghe
Thái Lan nữa đang nhắm hướng chúng tôi
mà phóng đến. Chúng lượn quanh ghe chúng
tôi ba lần. Chúng tôi ră rượi, chúng tôi
không c̣n sức lực để mà có phản ứng,
chúng tôi nằm chờ, phó mặc cho định
mệnh. Một tên trong bọn chúng xổ ra một
tràng tiếng Hoa. Mấy nguời Hoa trên ghe
chúng tôi vội vùng dậy và trả lời bằng
tiếng Hoa. Một người Hoa, được cho sang
bên ghe của chúng để nói chuyện. Họ là
người Hoa, nên đă bằng ḷng kéo chiếc
ghe của chúng tôi vào bờ. Họ c̣n dặn,
nếu vào được đến bờ rồi th́ phải đốt
ngay con tàu đi, nếu không th́ sẽ bị đẩy
ra khơi trở lại. Họ kéo chúng tôi cho
đến khi vào tới sát bờ, và để cho ghe
chúng tôi đâm thẳng vào băi. Khi thấy
ghe chúng tôi đă bị mắc cạn gần bờ, tôi
vội hô to:” mọi nguời nhẩy xuống, lội
vào bờ.” Cũng chẳng cần ai ra lệnh, mấy
thanh niên nhẩy xuống trước, nước chỉ
tới ngang lưng. Mọi nguời nhẩy ào xuống,
ngoại trừ tôi, Dũng, Trợ, và Trần Bội
Chương là ở lại t́m cách đốt chiếc ghe.
Loay hoay t́m măi chúng tôi mới kiếm
được chiếc hộp quẹt con con. Gom đống
quần áo, giẻ rách lại, chúng tôi ruới
dầu và châm lửa đốt đi chiếc ghe tỵ nạn
của chúng tôi. Chúng tôi nhẩy một cái ào
xuống biển mà lội vào bờ. Lên đến bờ,
quay đầu nh́n lại chiếc ghe đă đưa chúng
tôi đến bến bờ tự do đang cháy bốc khói
đen ngoài kia, chúng tôi vừa mừng vừa
hồi hộp. Nó bé cỏn con, nằm nghiêng
nghiêng bên triền sóng, con tàu thân yêu
đă đem chúng tôi đến được nơi đây với
bao nhiêu sóng gió, nguy nan. Cũng phải
cám ơn chiếc ghe Thái Lan và người chủ
tàu đă làm ơn kéo chúng tôi vào bờ.
Nhưng sau khi đă được nhập trại tỵ nạn,
và miêu tả chiếc ghe đă cứu thoát chúng
tôi cho những người đến trước, th́ mới
khám phá và được biết rằng là cũng chính
chiếc ghe Thái Lan này đă cướp bóc, hăm
hiếp, và giết chóc không biết bao nhiêu
là những ghe và người tỵ nạn khác. Đời
thật không biết đâu mà ngờ cho được! Tôi
nghĩ có lẽ tại thấy tàu của chúng tôi đă
bị cướp bóc tả tơi quá rồi, và những
người đồng hương người Tàu với chủ ghe,
nên chúng tôi mới được cứu giúp.
Chúng tôi lên bờ được chừng khỏang mười
phút sau th́ thấy một tóan lính Cảnh Sát
Dă Chiến Thái Lan mang dây kẽm gai đến
giăng, rào vây quanh chúng tôi lại. Dân
chúng Thái Lan trong làng gần đấy cũng
mang nước uống và đồ ăn tiếp tế cho
chúng tôi. Khi hỏi ra th́ mới được biết
nơi đây không phải Songkla, mà là
Patthani, một tỉnh ở phiá Nam của Thái
Lan. Sau đó th́ chúng tôi được đưa về
cho tạm trú khoảng một tuần lễ tại một
trại nuôi ḅ, “Chuồng Ḅ của Hoàng Gia”.
Sau khi hoàn tất thủ tục giấy tờ với
cảnh sát Thái Lan, chúng tôi được đưa về
trại tỵ nạn Songkla.
Ngay sáng sớm ngày hôm sau ở trại tỵ
nạn, tôi đang nằm “nướng” trên giường để
thụ hưởng cái không khí tự do của ngày
đầu tiên sau bao nhiêu năm chịu đựng
dưới ách kềm kẹp của Cộng Sản. Thôi rồi
không c̣n những hồi hộp lúc nửa đêm, sơ
hăi nghe tiếng chó sủa khi về sáng.
Không c̣n những ŕnh rập của cán bộ,
công an phường khóm. Không c̣n những
thấp thỏm, hồi hộp, luôn luôn lo âu, sợ
hăi bị bắt bớ giam cầm cải tạo. Êm đềm
quá! Thanh b́nh quá, nhưng buồn thay,
những điều này chúng tôi lại không có
được hưởng trên chính quê hương Việt Nam
yêu dấu của chúng tôi! Không c̣n những
cơn sóng to, gió lớn. Không c̣n những vô
vọng giữa biển khơi không thấy đâu là
bến bờ! Không c̣n phải âu lo với những
ghe hải tặc dă man tàn ác! Tôi lim dim
mắt, nằm lắng nghe cái tĩnh lặng của
buổi sớm mai trong pḥng, cái tiếng lào
xào sao xác, âm vọng bắt đầu trong ngày
của đời sống trong trại tỵ nạn. Bỗng
tiếng lảnh lót, khuếch đại chói tai của
cái loa phóng thanh:” Ai là Nguyễn Hữu
Hải, trước làm việc tại ṭa Đại Sứ Mỹ ở
Việt Nam hăy lên tŕnh diện văn pḥng
trại.” Tôi ngạc nhiên! Thay quần áo, tôi
lên văn pḥng trại, và được đưa vào gặp
mặt viên trung tá người Thái Lan. Ông ta
tươi cười thân thiện bảo với tôi là
“boss” của ông ấy muốn mời tôi ra khỏi
trại, và đi gặp mặt một người. Nơi ông
ta chở tôi đến là Ṭa Lănh Sự Mỹ. Khung
cảnh quen thuộc ở Ṭa Lănh Sự đập vào
mắt tôi, nào là “Việt Cộng termilogy”,
tự điển Nguyễn Văn Khôn… Tôi được tiếp
chuyện với một viên cố vấn Mỹ mà tôi
chưa hề quen biết. Ông ta nói là được
biết tôi đă từng làm việc tại TĐS Hoa Kỳ
ở VN, nên đề nghị cho tôi một công việc
tạm tại TLS Mỹ với số lương là hai trăm
đô một tháng, bằng với tiền lương của
một giáo chức ở Thái Lan, và ông trung
tá Thái Lan sẽ cho xe đón tôi ra làm
việc hàng ngày. Đang túng bấn và đuợc
trở lại làm việc th́ c̣n ǵ hơn nữa, tôi
nhận lời đi làm liền ngay sáng ngày hôm
sau. Thế là cứ sáng sáng tôi “sách ô” đi
theo xe của viên trung tá người Thái ra
ṭa LS Mỹ làm việc, và gọi là cho có
việc làm chứ cũng chẳng có ǵ. Nhưng sau
hơn một tháng làm việc th́, những tiếng
xầm ś ghen tức hay chê bai lọt đến tai
tôi! Tôi là một nguời tỵ nạn duy nhất đă
được ra làm việc tại ṭa LS Mỹ. Nhất là
từ ban Chỉ Huy trại và đám thông dịch
viên đă ghen tức ra mặt, và làm như là
tôi đă ăn cướp mất “cơm chim” của họ
không bằng ấy! Tôi chán nản và buồn
phiền, nên quyết định xin đi tỵ nạn với
phái đoàn nguời Pháp mà không chờ đi Mỹ.
Ngay từ bé tôi đă mơ được đi “Tây”, muốn
được nh́n thấy kinh đô ánh sáng. Những
bài thơ của Cung Trầm Tưởng hay Nguyên
Sa được phổ nhạc như Tiễn Em, Mùa Thu
Paris (Cung Trầm Tuởng), Paris có ǵ lạ
không em?(Nguyên Sa)… đă làm cho tôi
muốn được hưởng những cái lăng mạn của
ḍng sông Seine, của khu vuờn Lục Xâm
Bảo, hay ga Lyon đèn vàng… Một tuần lễ
sau đó tôi đă có mặt tại Paris, Kinh Đô
Ánh Sáng.
Xin
chép lại những bài thơ ấy để những bạn
nào không nhớ sẽ cảm nhận được t́nh cảm
của tôi:
Paris có ǵ lạ không em?
Mai
anh về em có c̣n ngoan,
Mùa
xuân hoa lá vương đầy ngơ,
Em có t́m anh trong
cánh chim.
Paris có ǵ lạ
không em?
Mai anh về giữa bến
sông Seine,
Anh về giữa một
gịng sông trắng,
Là áo sương mù hay
áo em?
Em có đứng ở bên bờ
sông?
Làm ơn che khuất
nửa vầng trăng
Anh về có nương
theo gịng nuớc
Anh sẽ t́m em trong
bóng trăng
Anh sẽ thở trong
hơi sương khuya
Mỗi
lần tan một chút sương sa
Bao
giờ sáng một trời sao sáng
Là
mắt em nh́n trong gió đưa ...
Anh
sẽ cầm lấy đôi bàn tay
Tóc
em anh sẽ gọi là mây
Ngày sau hai đứa ḿnh xa cách
Anh
vẫn đuợc nh́n mây trắng bay
Anh
sẽ chép thơ trên thời gian
Lời
thơ toàn những chuyện hờn ghen
V́
em hay một vừng trăng sáng
Đă đắm trong ḷng
cặp mắt em ?
Anh sẽ đàn những
phím tơ trùng
Anh đàn mà chả có
thanh âm
Chỉ nghe gió thoảng
niềm thương nhớ
Để lúc xa vời để
nhớ nhung
Paris có ǵ lạ
không em ?
Mai anh về mắt vẫn
lánh đen
Vẫn hỏi ḷng ḿnh
là hương cốm
Chả biết tay ai làm
lá sen ?...
Nguyên Sa
Mùa
thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn
em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn ly
Mùa
thu đêm mưa
Phố
cũ hè xưa
Công viên lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờ
Muà
thu âm thầm
Bên
vuờn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm
Mùa
thu nơi đâu ?
Người em mắt nâu
Tóc
vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu
Mùa
thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm th́
Mùa
thu không lời
Son
nhạt đôi môi
Em
buồn trở lại
Hờn
quên, hối cải cuộc đời
Mùa
thu! mùa thu
Mây
trời âm u
Yêu
người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tù
Mùa
thu !... Trời ơi ! T́nh thu !
Cung Trầm Tưởng
Cuộc đời tôi trôi nổi thêm khi tôi có
việc làm với Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp
Quốc, UNHCR, và có những lúc tôi cũng đă
trở lại làm việc ở Việt Nam, Quảng Ninh
hay Hồng Kông. Nay định cư tại San José.
Ngồi ôn lại di văng, ghi lại những cảm
nghĩ, những nơi ḿnh đă đi qua, nhớ đến
những bạn bè thân quen, những kỷ niệm mà
sau mấy chục năm qua vẫn c̣n nhớ như in
trong trí như với Đệ, với Dục, với Long,
với Trực, với Thạnh, với Lành… trong
Khóa 20 Sinh Viên Sĩ Quan/Hải Quân, như
với Trịnh Long Giang, Phạm Đức, Giang Xú
Hà, Trần Xuân Thái trong Cảnh Sát Quốc
Gia, như với An, Bằng trong toán Thám
Sát Tỉnh, và những người đă nằm xuống
cho đất nước Việt Nam thân yêu.
4.)
Mảng đời tỵ nạn: Từ trại tỵ nạn, tôi đă
được đi tị nạn bên Tây! Khi bước xuống
phi trường Charles de Gaulle là tôi phải
mang cái vốn Pháp Văn “ăn đong” của tôi
ra để xử dụng, không c̣n được dùng đến
thứ ngôn ngữ quen thuộc xử dụng hàng
ngày trong lúc làm việc ở trại tỵ nạn là
Anh Văn nữa. Tôi lại làm trưởng toán cho
đám dân tỵ nạn này thành ra phải đứng
mũi chịu sào mới chết chứ! Thành ra
nhiều khi nói tiếng “Tây” mỏi tay quá
chừng! Nhưng cũng may, có điều là dù tôi
nói “trời, trăng, mây, nước” ǵ đi nữa,
th́ tây hay đầm họ cũng hiểu ráo trọi.
Chứ không giống như bên Mỹ, ḿnh chỉ đọc
sai dấu nhấn đi có một chút là tụi nó
cũng “what! What!” loạn cào cào lên.
Nơi
chúng tôi đến là “Foyer de Créteil,”
trước kia đây là một khách sạn, nay được
dùng để làm chỗ tạm trú cho dân tỵ nạn
Đông Dương. Chúng tôi được xếp chỗ cho
cứ hai người một pḥng. Sau khi nhận
pḥng, chúng tôi đă được phát cho mỗi
người hai mươi đồng franc - thế là tôi
ra ngay một cửa hàng giống như cửa hàng
Seven-Eleven ở Mỹ, và mua ngay một ít
nho, lê, táo mang về pḥng để cùng vài
người bạn ăn cho đă thèm, những cái thèm
thuồng ao ước bao nhiêu năm nay.
Trưa ngày hôm sau th́ chúng tôi làm xong
thủ tục di chú và nhận lănh Thẻ Tỵ Nạn –
Carte de Refugié, giống như Green Card
bên Mỹ. Và tôi đă trở thành dân tỵ nạn
chính trị bên Tây “chính gốc bà Lang
Trọc” tại “Kinh Đô Ánh Sáng- Paris” này.
Việc đầu tiên chúng tôi cần học là cách
thức đi và xử dụng hệ thống Metro, và xe
buưt. Những ngày c̣n đi học, tôi đă có
cái tật là mê coi ciné. Những rạp như
Rex, Eden, hay Khải hoàn, Casino Sài
G̣n, Đa-Kao đều được tôi chiếu cố, thậm
chí đến những rạp ở xa như Cao Đồng Hưng
hay Đại Đồng tôi cũng “ṃ” đi coi nếu
đang chiếu những phim hay. Tôi thuộc nằm
ḷng những tên tuổi các tài tử gạo cội
như Burst Lancaster, John Wayne, Rita
Hayward, Orma Sharif và Julie Christie
trong phim Dr. Zhivago (Julie quá đẹp,
nàng đẹp như mơ…), Alain Delon, và cô
đào hấp dẫn Brigitte Bardot. Nên tôi ghi
nhận các tuyến xe, và ngay tuần lễ đó
tôi phải làm một chuyến đi xem ciné mới
được.
Tôi
lấy tuyến đường xe buưt chạy từ Créteil
xuống khu Montmarte-Grande Boulevards và
khu Montparnasse-Saint Germain để “xem
dân cho biết sự t́nh”. Thấy một rạp ciné
đang tŕnh chiếu cuốn phim có tên nghe
rất hấp dẫn “Les chevaliers-Những chàng
kỵ sĩ”. Ái chà, phim này chắc phải hay
lắm và chắc mẩm như vậy nên ḷ ṃ mua vé
vào xem, tôi đoán như vậy v́ liên tưởng
đến những phim như Knights of the Round
Table với tài tử đẹp trai Robert Taylor
và cô đào trứ danh Ave Gardner, phim Ba
Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ- Les Trois
Mousquetaires. Không người dẫn đường và
trong rạp tối thui, nên tôi ḷ ṃ măi
mới t́m được một chỗ ngồi. Sau khi ăn
tọa, nh́n lên màn h́nh đại vị tuyến th́
thấy một cặp trai gai trần truồng như
nhộng và đương “chiến đấu” một cách mănh
liệt! Tôi “tá hỏa tam tinh”, nh́n quanh
bên cạnh thấy những “ông tây bà đầm già”
cũng từng cặp đang ôm nhau thắm thiết!
Tôi hoảng hồn vội “lẩn” ra ngoài một
mạch! Khi ra đến ngoài rạp ciné, mà c̣n
thấy xấu hổ muốn chết đi được, ngó quanh
ngó quất xem coi có ai đang nh́n thấy
ḿnh chui ra khỏi rạp hay không? Đó là
một kỷ niệm nhớ đời của tôi trong những
ngày đầu đời tỵ nạn tại kinh đô ánh
sáng.
Tôi
lấy xe buưt đi một ṿng từ St Germain-
des-Prés, Champs Elysées-đến tháp Eiffel
để chiêm ngưỡng Paris. Ngoài ḍng sông
Seine thơ mộng th́ tháp Eiffel một biểu
tượng cho nước Pháp nói chung và cho
Paris nói riêng. Tôi xin được nói qua về
ngọn tháp nổi danh này: Tháp Eiffel nằm
trên đại lộ Champ de Mars, và kế bên
sông Seine, là một kiến trúc phá cách và
tiên phuông bằng sắt cao ngất ngưởng
nhất thế giới thời bấy giờ. Kỷ lục này
đă được giữ măi cho tới năm 1930 th́ bị
thay thế bởi Chrysler Buiding của thành
phố New York. Khi trúng thầu để được xây
dựng, kỹ sư Eiffel đă phải đối đầu với
những sự thách đố về kỹ thuật như độ
giăn nở không đồng đều của sắt giữa mặt
bị hâm nóng bởi nắng và phía đối diện
nằm trong bóng râm, nhất là lực đẩy của
gió sẽ làm cho thượng tầng cấu trúc của
tháp ngất ngư và có thể làm gẫy đổ ngọn
tháp. Là một kỹ sư chuyên về cầu sắt,
Eiffel đă giải quyết những thách đố kể
trên bằng những phương tŕnh toán học
hàm số vi phân, và hăng của ông đă được
trúng thầu v́ công tŕnh có thể được
tháo gỡ bỏ đi nhanh chóng. Tháp đă được
hoàn tất vào năm 1889, và dự trù phá bỏ
hai mươi năm sau, năm 1909 nhưng như ta
đă biết là nó vẫn c̣n hiện diện, và măi
măi vẫn là một biểu tượng nổi tiếng cho
Paris. Hăng Eiffel cũng đă xây một số
cầu nổi tiếng bên Việt Nam, như cầu Hàm
Rồng- Thanh Hóa. Có khoảng ba tầng để du
khách leo lên thăm viếng, có hai nhà
hàng để phục vụ du khách, có thang máy
để đưa du khách lên xuống. Đă có khoảng
trên hai triệu du khách đă từng thăm
viếng tháp, và đông nhất là vào năm 1996
- sinh nhật thứ 100 của tháp. Khi chỉ
mới leo lên lầu hai của tháp, nh́n ngắm
nh́n khung cảnh thành phố Paris, tôi
thấy ḿnh hạnh phúc quá. Tôi có cảm
tưởng rằng ḿnh đang sống trong mơ, hít
thở không khí tự do, không c̣n sợ hăi
bọn công an, không c̣n sợ phải bị kêu
lên phường hay tiềng gơ cửa ban đêm,
không c̣n phải lo chạy miếng ăn hàng
ngày, không c̣n thấy tương lai đen tối.
Nghĩ lại thời gian c̣n bị tù “học tập
cải tạo” tại kinh Làng Thứ Bảy, thuộc
Kiên Giang - Rạch Gía, tôi đă chỉ ao ước
được nằm ngâm ḿnh trong bồn tắm nước ấm
để đỡ cơn ghẻ ngứa là cũng đủ măn nguyện
lắm rồi. Một ước mơ nhỏ bé như thế mà
cũng không có được!
Tôi
là một người không có đạo, nhưng khi nằm
kề với nỗi chết ngoài biển khơi, nhất là
vào những lúc bị bọn hải tặc phá hủy
pḥng máy và kéo chiếc ghe của chúng tôi
ra khơi. Chiếc ghe của chúng tôi lênh
đênh trôi dạt giữa sóng gió, dập dềnh
như chiếc lá trên một ḍng sông mênh
mông. Tôi cũng như nhiều người đă rất lo
âu và sợ hăi. Tôi đă lâm râm cầu khẩn
Trời, Phật, Chúa, Thánh Thần, cho chí
tới bà tổ cố họ Phạm bên Mẹ tôi nữa. Tôi
đă hứa là nếu thoát nạn, tôi sẽ đến
chuà, đến nhà thờ để tạ lễ. Nhớ đến lời
đă hứa, một buổi sáng Chủ Nhật đẹp trời,
tôi đáp chuyến xe lửa tại ga
Montpartnasse để đến nhà thờ chính ṭa ở
Chartres. Khoảng hơn một tiếng sau tôi
đă có mặt tại nhà thờ, tôi lên chánh
điện và qùy xuống xin lạy tạ với những
lời thiết tha nhất trong đời tôi. Sau đó
tôi đi theo đoàn du khách để chiêm
ngưỡng những tác phẩm hay tượng tạc danh
tiếng đặt trong nhà thờ. Khi rời nhà
thờ, tôi về lại Paris đi tha thẩn thả bộ
dọc theo đường phố chỉ để được nh́n,
được ngắm, được sống trong thành phố mà
tôi đă từng ước mơ được đến. Khi thấy
đói bụng, tôi kiếm một nhà hàng có chỗ
ngồi ngoài trời, kêu một miếng thịt ḅ
bí tết và một ly rượu vang để vừa tận
hưởng món ăn, vừa nhâm nhi ly rượu chát
đỏ, và vừa ngắm nh́n những cô đầm đi qua
đi lại ngoài đường. Khi tính tiền, tôi
thấy giá cả cũng vừa phải không đến đỗi
quá mắc như ḿnh đă tưởng. Đến tối tôi
mới ṃ về lại chỗ tạm cư Foyer.
Mấy
ngày sau, tôi lần ṃ lên hội thiện
nguyện Secours Catholics để kiếm người
bảo trợ, và ghi danh để nhờ kiếm việc
làm. May mắn làm sao, tôi đă được gia
đ́nh bà Fourcier ở thành phố Laon, cách
Paris khoảng bốn mươi cây số về hướng
Đông-Bắc bảo trợ, và kiếm cho một việc
làm assembler với lương khởi đầu là hai
ngàn quan mới một tuần (khoảng năm trăm
dollars). Tôi đă được cho ở tạm tại nhà
khách của thành phố. Sáng đi làm từ 6
giờ sáng đến 12 giờ trưa về ăn cơm và
ngủ trưa, chiều 2 giờ mới phải đi làm
lại. Thật là hạnh phúc! Thỉnh thoảng tôi
về lại Paris, đến khu Maubert để mua
thực phẩm Á Đông. Đời sống ở Paris thật
là đắt đỏ, nhất là quần áo!
Thấm thoát tôi đă qua Tây được hai năm,
và đă được lên lương mấy lần. Cuộc sống
không c̣n những háo hức của cái thuả ban
đầu nữa. Một hôm tôi lên Paris, vào ṭa
đại sứ Mỹ, xin gặp viên chức về di chú.
Ông ta niềm nở tiếp tôi: “Tôi có thể
giúp anh được chuyện ǵ không?” Tôi chậm
răi trả lời: “Tôi muốn xin đi định cư
bên Mỹ.” Nghe xong, ông ta nhảy dựng
ngược lên, mặt mày nghiêm trọng:” Anh
không biết đây là nước Pháp à?” Ông ta
giận dữ nói tiếp:”Anh đă đến định cư ở
đệ tam quốc gia, và anh đang được hưởng
quy chế tỵ nạn ở đây! Bây giờ anh c̣n
muốn xin đi Mỹ, thế là thế nào?”
Tôi
b́nh tĩnh trả lời: “Tôi cũng có lư do
của tôi chứ.” Ngừng lại một chút xíu cho
ông ta chú ư, tôi nói tiếp:”Ngày xưa tôi
làm việc trong chương tŕnh Phượng
Hoàng, trực thuộc toà đại sứ Hoa Kỳ tại
Sài G̣n, tôi đă làm việc cho các ông
Bill Tucker, Ross của CIA.” Ông ta dịu
giọng:”Nếu anh nói như vậy, để tôi hỏi
lại xem sao?” Sau một hồi trao đổi điện
đàm với một viên chức khác, ông ta bằng
ḷng gửi tôi đến hội thiện nguyện
Tolstoy Foundation, có trụ sở chính tại
New York để họ làm thủ tục giúp cho tôi
đi Mỹ. Tuy nhiên trong thời gian chờ đợi
th́ tôi lại nhận được một việc làm cho
Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), và
làm việc tại các trại tỵ nạn ở Hồng Kông
như White Head, Chi-Ma Wang, Lai Ko
Chau, Sei Kong. Công việc của tôi là dậy
và chuẩn bị cho dân tỵ nạn không hội đủ
điều kiện hay tự nguyện hồi hương để có
một kiến thức về tiểu thương-small
business, hầu khi trở lại Việt Nam có
thể hội nhập lại vào xă hội. Mỗi người
đi học, cũng sẽ nhận lănh được một món
tiền nhỏ.
Năm
1991, tôi được định cư tại tiểu bang
California, và làm việc cho cơ quan
Asian American for Community Involvement
(AACI) với chức vụ substance abuse
counselor trong chương tŕnh “cai nghiện
rượu và thuốc lá.” Một hôm có anh bạn
cùng khóa 6 Cảnh sát Quốc Gia với tôi
cho xem một tấm ảnh đăng lên trên
website, mục t́m người quen của trường
nữ trung học Lê Văn Duyệt của một “cô
bé” tên Hương. Trong tấm h́nh là ảnh của
tôi, của Nguyễn Xuân Dục, của Nguyễn Văn
Đệ, của Phan Ngọc Long, của Ngô Nguyên
Trực, và của Tôn Long Thạnh chụp hồi
chúng tôi c̣n là sinh viên sĩ quan Hải
Quân Khóa 20, đang thụ huấn tại trung
tân huấn luyện Quang Trung. Tấm ảnh này,
bạn Nguyễn Xuân Dục đă tặng cho “cô bé
nữ sinh Lê Văn Duyệt mang tên Hương”
trước ngày cô đi du học ở Úc Châu. Nhờ
tấm h́nh này mà tôi đă t́m về lại được
với khóa 20 sau bốn mươi năm xa cách.
Xin cám ơn Hương, cám ơn người bạn thuở
xa xưa đă bắt một nhịp cầu cho chúng ta
được gặp lại nhau.
Tôi
cũng xin cám ơn nước Pháp, nước Mỹ đă
cho tôi sự tự do, những cơ hội, cơ hội
được học hành, cơ hội được đối xử b́nh
đẳng, cơ hội kiếm công ăn việc làm… Tôi
mang món nợ này với xă hội, với cộng
đồng, và lối xóm tôi đang sinh sống. Tôi
chỉ c̣n một cách đền trả là bằng sự sống
lương thiện của tôi, làm việc hăng say,
giáo dục con cái thành người hữu dụng
trong tương lai.
Món
nợ thứ hai là món nợ t́nh cảm, t́nh cảm
của các anh em cùng khóa 20 sinh viên sĩ
quan Hải Quân, và khóa 6 Cảnh Sát Quốc
Gia đă dành cho tôi khi tôi đă t́m để về
lại với các bạn. Xin cám ơn các bạn, xin
cám ơn t́nh bạn sau bao nhiêu năm xa
cách nhưng vẫn không bị phai mờ!
San Jose, tháng 6
năm 2007.
Nguyễn hữu Hải
CHUYẾN
TÀU ĐỊNH MỆNH
Thời
gian là một thần dược có thể xoa dịu
những đớn đau của vết thương ḷng. Nhưng
vết thương ba mươi tháng tư vẫn c̣n rỉ
máu sau hơn ba mươi năm dài chữa trị.
Người viết bài này xin nghiêng ḿnh nhận
lỗi nếu đă khơi dậy một trong những niềm
đau của dĩ văng.
Hồi Kư H.K.C
Hôm ấy là buổi sáng
ngày 30 tháng 4. Trời không có nắng, mây
mù rải rác có lúc che khuất ánh mặt trời.
Hai chiếc duyên tốc đĩnh (PCF) của Hoan
và tôi đang nằm trong ụ của căn cứ Đồng
Tâm sau một chuyến công tác tuần pḥng
trên sông Tiền Giang.
- Trung úy ơi, tàu
của ông Hoan đang chuẩn bị đi. Trung úy
tính sao?
- Thật sao! Các anh
chờ tôi một chút.
Tôi trả lời hạ sĩ
nhất trọng pháo Phương rồi vội vă chạy
sang chiếc PCF của Hổ Cáp 2 Nguyễn ngọc
Hoan đang cặp cùng cầu với chiếc duyên
tốc đĩnh của tôi, cách khoảng vài chục
thước.
- Trung úy Hoan có
trong tàu không anh? Tôi hỏi một thuỷ
thủ đang kéo ống dầu lên cầu tàu.
- Dạ, ông ấy lên
Trung Tâm Hành Quân rồi.
- Lâu chưa?
- Chừng mười lăm
phút, ông thầy.
Tôi quay trở về tàu
của ḿnh, bước vào pḥng chỉ huy điều
chỉnh âm thanh của chiếc máy PRC-25 cho
lớn hơn rồi bật qua tần số của Trung Tâm
Hành Quân Trần Hưng Đạo 44 gọi:
- "Hải Âu" đây
"Sóng Bạc Đầu".
- "Sóng Bạc Đầu"
đây "Hải Âu".
- Đây là hai lần
tango của "Sóng Bạc Đầu", cho tôi nói
chuyện với hai lần tango của "Sóng
Ngầm".
"Sóng Ngầm" là ám
hiệu của tàu Hoan, "Sóng Bạc Đầu" là tàu
tôi, c̣n "Hải Âu" là ám hiệu của Trung
Tâm Hành Quân, hai lần tango có nghĩa là
hai chữ T, là thuyền trưởng.
- Ông thầy chờ một
chút.
Chừng vài giây sau,
tôi nghe tiếng của Hoan từ đầu máy bên
kia, không c̣n giữ kín theo ám hiệu hành
quân nữa:
- Mầy đó hả, Chiến?
- Đúng rồi, tụi mầy
định đi hả? Tôi hỏi nó liền không ṿng
vo.
- Phải đi thôi mầy
ơi. Mầy chờ tao về tàu rồi ḿnh nói
chuyện thêm.
Tôi buông chiếc ống
nghe xuống, đầu óc hoang mang, lo lắng
bước lên cầu tàu làm bằng những cai
"pon-ton" nối lại với nhau, đi tới đi
lui chờ đợi.
Hoan là sĩ quan
trưởng toán của nhóm năm chiếc PCF thuộc
Hải Đội 5 Duyên Pḥng, biệt phái từ căn
cứ Năm Căn về yểm trợ cho Bộ Tư Lệnh
Vùng 3 Sông Ng̣i. Hắn và tôi cùng xuất
thân từ khóa 20 Sĩ Quan Hải Quân Nha
Trang có tên là Đệ Nhị Hổ Cáp, sau này
chúng tôi thường gọi nhau một cách thân
mật là Hổ Cáp 2. Hôm tŕnh diện ở căn cứ
Nhà Bè, khoảng 23 tháng 4 năm 1975 chúng
tôi lại nhận được lệnh tách ra hai chiếc
về căn cứ Đồng Tâm yểm trợ cho Bộ Tư
Lệnh Hành Quân Trần Hưng Đạo 44 (số 44
này có thể không đúng). Chiếc PCF của
tôi được Hoan chọn đi theo chiếc của nó
di chuyển về căn cứ Đồng Tâm, gần thị xă
Mỹ Tho ngay hôm đó.
Đơn vị trước của
tôi là Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 6 Tuần Thám
(LD6TT), lúc ấy đang phối hợp cùng Bộ Tư
Lệnh Vùng 4 Sông Ng̣i chỉ huy chiến dịch
hành quân Trần Hưng Đạo 40, bản doanh
đóng tại Cần Thơ, trại Yết Kiêu.
Gần cuối tháng 3
năm 75, tôi nhận được công điện thuyên
chuyển về Hải Đội 5 Duyên Pḥng, Bộ Chỉ
Huy đóng tại Năm Căn. Lệnh thuyên chuyển
đến với tôi như một tiếng sét nổ ngang
tai. Không ngờ một trong những diễn tiến
quan-trọng trong đời binh nghiệp lại đưa
đến cho tôi trong lúc này. Lúc mà t́nh
h́nh chiến sự vô cùng căng thẳng cộng
thêm sự lo lắng trong nội bộ gia đ́nh
tôi. Vợ tôi đang mang thai và chúng tôi
đang chờ đợi đứa con đầu ḷng ra đời
trong ṿng vài ngày.
Buổi chiều hôm nhận
được công điện thuyên chuyển, tôi về nhà
rủ vợ đi ra ngoài ăn tối. Thấy tôi có vẻ
trầm ngâm tư lự, vợ tôi hỏi:
- Sao anh có vẻ
buồn vậy, có chuyện ǵ không hay phải
không?
Tôi thở dài, lặng
thinh một lúc rồi nói cho nàng biết mọi
sự việc. Vợ tôi cũng bàng hoàng, sửng
sốt không kém. Chúng tôi ngồi yên lặng
thật lâu, nh́n mấy dĩa thức ăn đă trở
nên nhạt nhẻo mà không buồn cầm đũa. Một
lúc sau, nàng lên tiếng:
- Anh đừng lo cho
mẹ con em, Lan chỉ mong anh cẩn thận nơi
đơn vị mới. Lan nghe đồn nơi đó nguy
hiểm lắm.
Tôi đưa tay nắm lấy
tay nàng mà không trả lời. Nàng nói
tiếp:
- Lan sẽ nhờ má và
mấy em của Lan tiếp tay trong những ngày
sinh nở.
- Lan định về
Sài-g̣n sinh con hay sao?
- Chắc là như vậy,
nếu anh phải đi trước ngày ấy.
Do sự may mắn, hoặc
v́ con tôi muốn được ba bồng bế lúc chào
đời mà hai ngày sau vợ tôi chuyển bụng
và đứa con gái đầu ḷng của chúng tôi
chào đời giữa ḷng Tây Đô, cái thị trấn
cũng ồn ào nhộn nhịp không thua ǵ thủ
đô Sài-g̣n hoa lệ. Ngày hôm sau HQ Thiếu
tá Hồ Đấu, chỉ huy trưởng Liên Đoàn 6
Tuần Thám trao cho tôi tờ giấy phép một
tuần nghỉ vợ sanh kèm theo sự vụ lệnh
tŕnh diện Bộ Tư Lệnh Hải Quân sau đó,
chờ phương tiện tân đáo đơn vị mới. Nhờ
những ngày phép ấy, tôi có cơ hội quanh
quẩn trong bệnh viện bên cạnh giường
sanh với mẹ con nàng. Lần đầu tiên tập
tành làm cha, nuôi vợ sanh tôi có cái
cảm giác kỳ kỳ, ngồ ngộ – vừa vui mừng,
vừa mắc cỡ. Tôi đă cố làm mọi việc từ
pha sữa cho con bú, giặt tă đến đi chợ
nấu ăn. Tôi đă nấu món thịt kho tiêu ăn
với hành lá luộc mà bà ngoại của con tôi
khuyên.Tôi đă cố giữ cho ḿnh bận rộn
suốt ngày để không c̣n th́ giờ nhớ đến
những ǵ đang chờ đợi ở những ngày sắp
đến. C̣n lại vài ngày phép cuối, chúng
tôi khăn gói về Sài-g̣n tá túc bên gia
đ́nh vợ, nhờ ba má và mấy đứa em nàng
phụ giúp.
Chiếc C130 chở tôi
đến tŕnh diện đơn vị mới đáp xuống phi
trường An Thới, Phú Quốc nơi có gần một
nửa lực lượng của Hải Đội 5 Duyên Pḥng
tạm dừng quân và yểm trợ cho Bộ Tư Lệnh
Vùng 4 Duyên Hải từ đầu tháng 4 năm 75.
Tôi làm mọi nghi thức tŕnh diện đơn vị
mới ngay ở đó luôn. Mấy ngày sau, cả
phân đội duyên tốc đĩnh kéo về căn cứ
Năm Căn theo lệnh di chuyển của Bộ Tư
Lệnh.
Đă từ lâu nghe danh
“muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh
canh”; bây giờ tôi mới thực sự có dịp
nếm mùi, mặc dù mới chỉ có phân nửa đầu
cái đặc sản ấy của Năm Căn. Những ngày
nằm tại căn cứ, đêm đêm bọn chúng tôi
kéo ra khu gia binh, t́m vào mấy quán
nhạc ngồi đuổi muỗi bên cạnh ly cà phê
mà cố thả hồn theo những lời ca ai oán!
Tuổi trẻ của chúng tôi thời ấy thật là
lạ lùng, tội nghiệp. Chúng tôi lặn ngụp
giữa chiến tranh, tàn phá, chết chóc,
chia ly hoà lẫn với nhạc vàng, với đam
mê ray rứt, mà không cần biết đến tương
lai, mặc cho nó có mịt mù hay tươi sáng
ra sao cũng cam chịu. Cuộc chiến sôi sục
của tháng tư đă đưa chúng tôi trở lại
gần với thành phố. Năm chiếc PCF rời căn
cứ Năm Căn trực chỉ Nhà Bè trong những
ngày cuối tháng tư hải hùng ấy.
Hoan và một người
nữa cùng đi xuống cầu hướng về tàu của
chúng tôi. Tôi tiến tới gần mới nhận ra
người thứ hai là Hổ Cáp 2 Mai ngọc Oanh.
- Tàu của mầy c̣n
nhiều dầu không? Hoan hỏi tôi.
- C̣n khoảng phân
nửa.
- Mầy cho mấy thằng
em lấy đầy đi.
- Dễ thôi, nhưng
ḿnh sẽ đi đứng làm sao?
- Chiến ơi, sống
không nỗi với tụi cộng sản đâu.
Thằng Oanh chêm vào
rồi nói tiếp:
- Gia đ́nh chúng
tao không chịu nỗi nên đă bỏ chạy vào
Nam năm 54, mầy nghe tao mà chuẩn bị lên
đường. Cứ đi ra ngoài hải phận quốc tế
sau đó sẽ bắt liên lạc với các chiến hạm
của Sài-g̣n rồi tính tiếp.
Oanh là sĩ quan
trực của Trung Tâm Hành Quân Trần Hưng
Đạo 44, nó định cặp theo tàu của Hoan mà
đào thoát. Nó tiếp:
- Tướng Nguyễn khoa
Nam ra lệnh tử thủ, nhưng mấy ông lớn đă
bỏ chạy hết rồi. Tao nằm ở Trung Tâm
Hành Quân nên biết rơ lắm. Ḿnh ở lại để
làm ǵ, đánh đấm bằng cách nào, chỉ có
chờ chết.
- Tao tin tụi mầy.
Tụi mầy chờ tao lấy thêm dầu nghe.
Tôi nói, rồi trở về
tàu của ḿnh nói với trung sĩ cơ khí
Hải:
- Ḿnh chuẩn bị di
tản ra biển khơi, anh Hải làm ơn lo việc
lấy thêm nhiên liệu.
- Lấy đầy vô cả
bụng luôn nghe ông thầy. Hải hỏi lại tôi
- Tùy mấy anh, làm
sao được th́ cứ làm.
Tôi trả lời mà
không suy nghĩ.
Không thể đứng yên
chờ đợi, tôi trở qua tàu của Hoan và
Oanh. Cả hai đang nghe tin tức trên
radio và liên lạc vô tuyến với các đơn
vị bạn.
- Tướng Minh ra
lệnh buông súng rồi. Ḿnh phải đi lẹ
thôi. Oanh cho tôi biết.
- Thiệt hả? Sao lẹ
quá vậy.Tôi ngơ ngác hỏi lại.
- Bao lâu nữa tàu
mầy lấy xong dầu?
- Chừng nửa giờ
nữa.
Hoan quay qua cho
biết nó đă bắt liên lạc được với chiếc
Trợ Chiến Hạm Lưu Phú Thọ, HQ229 thuộc
Bộ Tư Lệnh Hạm Đội đang trên đường tiến
ra cửa Tiểu từ hướng Bắc Mỹ Thuận (Tôi
có thể lầm với chiếc Đoàn Ngọc Tảng
HQ228). Hạm trưởng cho biết đă liên lạc
được với Bộ Chỉ Huy của đoàn chiến hạm
ra đi từ Bộ Tư Lệnh ở bến Bạch Đằng.
Đoàn tàu Hải Quân sẽ gặp nhau ở tụ điểm
đảo Côn Sơn, rồi định hướng đi tiếp tới
đảo Guam hoặc căn cứ Subic Bay, Phi luật
Tân. Ông cho biết thêm là c̣n khoảng 30
phút nữa tàu của ông sẽ đi ngang qua căn
cứ Đồng Tâm, nên yêu cầu chúng tôi giữ
tầng số này để liên lạc mà tháp tùng với
tàu của ông đến Côn đảo. Cả hai thằng
Hoan và Oanh đều hối tôi trở về tàu coi
việc lấy dầu tới đâu.
Tôi chạy trở về tàu
của ḿnh, thấy ống dẫn dầu c̣n bắt vào
tàu vội lớn tiếng hỏi:
- Gần xong chưa anh
Hải ơi?
- Dạ c̣n đổ thêm vô
bụng một chút nữa.
- Tôi nghĩ chắc đủ
rồi đó anh. Ḿnh lo tắt ṿi và kéo ống
đi.
- Dạ, ông thầy.
Thuỷ thủ đoàn trong
tàu thường gọi các sĩ quan bằng "ông
thầy", nghe thấy có một chút ǵ quen
quen và gần gũi mặc dầu không đúng với
cách xưng hô trong quân ngũ. Chúng tôi
ngầm chấp nhận mà không bao giờ đính
chánh.
Hôm ấy là lần đầu
tiên ,và cũng là lần cuối cùng! – chúng
tôi lấy dầu từ căn cứ mà không cần phải
chờ công điện, hay kư nhận ǵ cả.
Hơn nửa giờ sau,
hạm trưởng HQ229 lên máy cho biết chiếc
Trợ Chiến Hạm của ông sắp tiến ngang căn
cứ Đồng Tâm. Chúng tôi tháo dây buộc tàu
và nổ máy tiến ra cửa ụ chờ đợi. Từ xa
cách vài trăm thước, con cá mập màu đen
ấy đang lù lù tiến đến. Tôi nh́n lên sàn
tàu thấy thuỷ thủ đoàn đều mặc áo giáp,
đầu đội nón sắt tay ôm súng ở vào vị trí
sẵn sàng chiến đấu, một số khác th́ ứng
chiến ở các khẩu đại pháo và đại liên.
Thấy t́nh t́nh có vẻ nghiêm trọng nên
tôi ra lệnh cho thuỷ thủ đoàn của tàu
ḿnh cũng làm như vậy.
Chiếc PCF của Hoan
và Oanh tiến lên trước nối đuôi với con
cá mập đen ấy. Tàu của tôi đi theo sau.
Tôi không biết v́ Hoan là trưởng toán
hay v́ bản tánh chậm chạp mà tôi để cho
tàu của Hoan dẫn trước, chắc là cả hai.
Qua hệ thống vô tuyến, hạm trưởng HQ229
cho biết là chiến hạm của ông sẽ dẩn đầu
đưa chúng tôi ra cửa Tiểu rồi sẽ lấy
hướng gia nhập vào đoàn "convoy" từ Bộ
Tư Lệnh Hải Quân. Hiện thời đoàn tàu ấy
đă ra khỏi cửa Soài Rạp và đang trên
đường hướng về đảo Côn Sơn.
Mặt trời đă lên cao,
tôi đoán có lẽ cũng đă giữa trưa. Tôi
không buồn nh́n vào chiếc đồng hồ, mặc
dù nó đang nằm ở cổ tay của ḿnh. Thời
gian đối với tôi lúc này thật là hỗn độn
và vô nghĩa. Nh́n lên hai bờ sông, tôi
vẫn thấy những ngôi nhà yên ấm ấy, cũng
với những khóm cây lao xao trước gió êm
đềm, không như tưởng tượng của tôi về
một sự thay đổi nào đó đang diễn ra.
Người đi lại trên bờ sông thưa thớt,
dưới nước cũng ít thấy ghe, xuồng. Cái
cảnh vật im ắng ấy như đang tạo nên một
bức màn thưa che giấu một biến động đang
ngấm ngầm sôi sục. Tôi không hiểu cuộc
hành tŕnh này sẽ dẫn ḿnh tới đâu, tại
sao lại bỏ chạy? Lực lượng quân sự vùng
Tây Nam của chúng tôi chưa đụng độ với
tụi Việt Cộng trận nào đáng kể mà đă
chịu thua, rồi chuyện ǵ sẽ xảy ra tiếp?
Gần đến thị xă Mỹ
Tho, tôi chợt thấy dưới bờ sông có một
nhóm người đang vẫy tay. Con cá mập đen
và tàu của Hoan đă lờ và lướt đi qua.
Tôi chụp chiếc ống ḍm để nh́n cho kỹ
hơn. Tôi thấy gần chục người, đàn ông
lẫn đàn bà và có cả trẻ con. Có vài
người mặc quân phục Việt Nam Cộng Hoà.
Họ đang ra tay vẫy và kêu gào. Tôi đoán
họ đang cần giúp đỡ hay muốn tháp tùng
với chúng tôi.
Trung sĩ cơ khí Hải
lên tiếng:
- Ông thầy, ḿnh
ghé vô rước họ không?
Một câu hỏi lướt
nhanh trong trí tôi:
"Ḿnh có đủ th́ giờ
để đuổi theo đoàn cá mập không?"
- Tội nghiệp họ mà
ông. Hải nói tiếp mà không chờ tôi trả
lời.
Tôi thấy lương tâm
của ḿnh bị đánh thức trước cái t́nh cảm
b́nh dị mà mặn mà của người thuỷ thủ.
Tôi nghĩ nếu tăng vận tốc th́ vẫn c̣n có
thể đuổi kịp đoàn tàu đi trước, liền ra
lệnh:
- Ghé vô... Ghé vô.
Hải lập lại giọng hăng hái.
Như chúng tôi đoán,
họ là những người lính địa phương quân
đưa vợ con ra hướng bờ sông t́m đường
chạy nạn. Chúng tôi giúp kéo họ và đưa
một số bao bị nhỏ lên tàu.
Lúc ngang qua Căn
Cứ Hải Quân Mỹ Tho th́ tàu của tôi đă
ghé vào bờ thêm vài lần nữa để tiếp đón
thêm hơn mười người gồm cả thường dân,
nhân viên chính quyền và gia đ́nh họ.
Tổng cộng số người chạy theo chúng tôi
đă lên hơn hai mươi.
Qua khỏi thị xă Mỹ
Tho một đoạn, hạ sĩ nhất trọng pháo
Phương tay ôm khẩu M16 đến gần tôi nói
nhỏ:
- Ḿnh không chuẩn
bị ǵ hết cho chuyến đi này, kể cả phần
ẩm thực. Trên tàu hiện tại có gần ba
chục miệng ăn. Không biết tàu ḿnh phải
lênh đênh trên biển cả bao lâu.
- Ông thầy tính
sao?
Trong lúc tôi c̣n
đang bối rối trước trước vấn đề Phương
đưa ra th́ hắn lại nói tiếp:
- Để tụi em lo cho,
chỉ xin ông thầy làm ơn giữ im lặng
giùm.
Tôi không biết
Phương định làm ǵ nên không trả lời. Từ
lúc sáng đến giờ, đă nhiều lần tôi hành
động mà không suy nghĩ. Tôi đă trở thành
kẻ thụ động trong hầu hết mọi quyết
định.
Chiến sự nóng bỏng,
cùng với những cuộc di tản chiến thuật
dồn dập bắt đầu từ mấy tuần trước đây đă
ảnh hưởng không ít đến tinh thần và sự
suy nghĩ của tôi. Tôi cảm thấy phân vân,
nghi ngờ và e-ngại cho t́nh h́nh an ninh
của miền Nam Việt Nam. Nhưng lệnh buông
súng đầu hàng của tướng Minh đến với tôi
sáng hôm nay thật là bất ngờ. Sao dễ
dàng quá vậy! – Tôi lại vẫn không tin là
sự thật. Tôi vẫn nghĩ rằng lực lượng
miền Nam c̣n có cơ hội lật ngược t́nh
thế được như ḿnh đă làm trong Tết Mậu
Thân năm 1968 và mùa hè đỏ lửa của năm
1972, hoặc tệ lắm cũng có thể kéo dài
trận chiến thêm cả năm nữa. Tôi cũng đặt
một chút tin tưởng vào sự trợ giúp của
lực lượng quốc tế. Than ôi! Người bạn
đồng minh Hoa Kỳ đâu rồi?!
Một loạt súng nổ
gịn tan và chát chúa như sát bên tai
kéo tôi trở về với hiện tại. Tôi vội
quay qua t́m kiếm và phân định. Th́ đúng
là sát bên tai thật. Tiếng súng ấy phát
xuất từ khẩu M16 trên tay hạ sĩ nhất
Phương. Hắn đang đứng ở mũi tàu, tay mặt
ôm khẩu súng c̣n đang bốc khói tay trái
th́ đưa lên cao ngoắt lia, ngoắt lịa một
chiếc tàu đ̣ đang chạy từ phía bờ bên
kia, ngược chiều về hướng thị xă Mỹ
Tho.Tôi đoán, có thể là tàu đ̣ chở khách
di chuyển từ làng xă về thành phố như
mọi ngày.
Tôi bước ra sân
trước, nơi Phương đang đứng chờ. Hắn gọi
tàu đ̣ để làm ǵ? Tôi tự hỏi thầm. Có ai
muốn xuống tàu đ̣ để quay trở lại hay
sao? Tôi nh́n chiếc tàu đ̣ giảm vận tốc,
từ từ đổi hướng trực chỉ về phía tàu của
chúng tôi.
- Ngừng máy đi anh
Hải. Phương yêu cầu trung sĩ Hải, lúc đó
đang đứng trong pḥng lái.
- OK, Hải trả lời.
Tôi định lên tiếng
hỏi, nhưng nhớ lại lời yêu cầu của
Phương nên kịp giữ lại. H́nh như hiểu
ngầm được sự thắc mắc của tôi,
Phương nói:
- Ông thầy đừng lo,
tụi em không làm ǵ quá đáng đâu.
Tôi theo dơi t́nh
h́nh và hành động của Phương mà không
trả lời.
Lúc chiếc tàu đ̣
tiến gần sát vào tàu chúng tôi, hắn ra
hiệu cho tài công để điều chỉnh phương
hướng. Chờ cho hai mũi tàu ngang nhau,
hắn ôm súng nhảy qua chiếc tàu đ̣. Trung
sĩ Hải bước ra sân mũi kêu Phương ném
sợi dây cột từ mũi chiếc tàu đ̣ qua rồi
buộc vào cái “tắc kê” của tàu chúng tôi.
Xong xuôi Hải cũng phóng qua, rồi cả hai
chui vào trong khoang nơi có hành khách
ngồi. Tôi đứng nh́n theo, dạ bồn chồn.
Khoảng hơn năm phút
sau, Hải ló đầu ra trước tướng đi lọm
khọm. Hắn vác trên vai một bao chỉ xanh
to tướng. Phương cầm súng đi theo sau,
tới gh́ sợi dây buộc cho mũi hai chiếc
tàu cặp sát vào nhau. Hải vác cái bao bố
trở về duyên tốc đĩnh trước, ném xuống
sân mũi. Phương theo sau, mở dây buộc
ném trở về chiếc tàu đ̣ rồi phẩy tay ra
hiệu cho chiếc tàu đ̣ lái đi.
Cả hai tiến gần lại
tôi nói nhỏ:
- Không t́m thấy
cái ǵ khác để ăn được hết trung úy ơi.
Tụi em lấy đỡ cái bao gạo chỉ xanh này
thôi.
-
Lấy của người ta hả? Tôi gằn giọng, rồi
hỏi tiếp:
-
Mấy anh có trả tiền cho người ta không?
-
Dạ em có để lại một tờ thánh Trần.
-
Năm trăm đồng, có xứng giá với cái bao
chỉ xanh ấy không?
-
"Ngộ biến phải tùng quyền" mà ông thầy.
Phương bào chữa.
Tôi
đứng lặng người, lắc đầu. Mọi việc diễn
ra một cách chớp nhoáng làm cho tôi
không kịp trở tay. Tôi nh́n theo chiếc
tàu đ̣ đă quay đầu đi một đoạn, tiếng
máy nổ thật to như cố trốn chạy cho
nhanh. Thật không ngờ, hôm nay chúng tôi
trở thành những tên cướp biển. Tôi nh́n
lại bộ quân phục trên người mà cảm thấy
hổ thẹn.
-
Ông thầy đừng có khó chịu, không lẽ để
cho gần ba mươi người trên tàu chịu chết
đói.
Phương phân trần, và tiếp:
-
Tụi em làm, để tụi em chịu hết cho.
-
Tôi không định đổ lỗi cho các anh đâu,
có điều việc này quá bất ngờ nên tôi
không cảm thấy an tâm. Thôi, ḿnh đi
tiếp kẻo bị bỏ lại quá xa.
Không sao đâu ông thầy, tốc độ tàu ḿnh
nhanh hơn chiếc 229 th́ đuổi theo mấy
hồi.
Chúng tôi tăng vận tốc để cố đuổi theo
nhóm tàu của Hoan, Oanh và chiếc HQ229.
Nhưng chỉ mấy phút sau, Hải lại bước đến
gần tôi và nói:
-
Trung úy để cho tụi em thử một lần nữa
nghe.
Thấy tôi im lặng như ngầm đồng ư, Phương
bước ra phía mũi tàu rồi nổ một tràng
M16 khác lên trời. Tôi nh́n về phía
trước xéo bên kia bờ sông thấy một chiếc
ghe chài to tướng, loại thương buôn hay
dùng để chở cát, đá đang chạy ngược lại.
Nghe tiếng súng, chiếc ghe chài vội giảm
tốc độ và quay mũi về phía tàu chúng tôi
khi thấy Phương đứng ngoắc ở sân trước.
Thôi đúng ḿnh là hải tặc rồi, c̣n ǵ
nữa. Tôi tự nói với ḿnh và ngại ngùng
ngồi yên trong pḥng chỉ huy.
- Ghe chở ǵ vậy
chú. Phương lên tiếng hỏi người đàn ông
đứng trước mũi ghe.
- Dạ chở dưa hấu.
Ông ta đáp:
Nói xong người đàn
ông ấy giở tấm vải bố thật dầy, kéo ra
phía sau. Thật toàn là dưa hấu. Những
trái dưa xanh tṛn bằng một ṿng ôm của
trẻ con nằm đầy ắp cả khoang ghe.
- Mấy cậu lấy vài
trái ăn thử, dưa ngọt lắm.
- Chú c̣n chở ǵ
khác nữa không?
- Dạ không.
- Thôi cám ơn, chú
đi đi.
Tôi thở ra một
tiếng dài, chờ chiếc ghe đi được một
khoảng rồi quay mũi tăng tốc độ tàu ḿnh
hướng ra cửa Tiểu. Tội nghiệp cho người
dân lương thiện, cuộc sống đă mất an mà
c̣n phải gánh chịu nhiều điều khốn khó,
áp bức. Có phải chiến tranh đă mang lại
những tệ nạn đó không! Thôi th́ cứ đổ
lỗi cho nó đi.
Qua hệ thống vô
tuyến, chúng tôi nối lại liên lạc với
HQ229 và tàu của Hoan. Được biết cả hai
c̣n cách cửa Tiểu khoản 2 hải lư.
- Mầy làm ǵ mà bị
tuột lại sau hơi xa vậy? Hoan hỏi tôi.
- Tao phải ghé vào
rước thêm một số dân chạy nạn.
Tôi cảm thấy tai và
mặt ḿnh đỏ bừng lên v́ đă giấu nó cái
đoạn làm hải tặc bất đắc dĩ vừa qua. Kệ,
"ngộ biến phải tùng quyền' mà! Sau này
có dịp, ḿnh sẽ chuộc lại lầm lỗi này.
Nhưng cái dịp mà tôi mong chờ đó đă
không bao giờ đến.
Càng tiến gần ra
cửa biển, gió thổi càng mạnh. Tôi đă
không c̣n nhớ đến cái thú vị và sự khoan
khoái khi hít thở vào những làn không
khí trong mát ấy. Trong tiếng gió vi vu
ḥa lẫn với tiếng sóng biển ŕ rào. Có
tiếng máy bay trực thăng vang vọng, lúc
ồn ào, lúc văng vẳng xa xa. Tôi không
nghĩ những chiếc trực thăng đó đang tham
dự vào một cuộc hành quân nào, nhưng
đoán là của các cấp chỉ huy đang t́m
đường trốn chạy như tôi. Nh́n lên trời,
tôi mong t́m thấy một câu trả lời trái
ngược với sự suy nghĩ bi quan của ḿnh.
Thế nhưng tôi hoàn toàn thất vọng, v́
tiếng trực thăng ấy nhỏ dần, nhỏ dần và
mất hút về phía biển khơi.
Ba mươi phút sau,
tôi nh́n thấy hai chấm đen ng̣m nơi cửa
biển, một cái to của HQ229 dẫn trước và
cái chấm nhỏ hơn của chiếc duyên tốc
đĩnh Hoan và Oanh theo sau. Thêm nửa giờ
nữa th́ tàu tôi đă bắt kịp với HQ229 và
tàu Hoan. Ra khỏi cửa Tiểu chừng mười
hải lư, đoàn tàu chúng tôi đổi về hướng
Đông Nam, trực chỉ đảo Côn Sơn.
Biển vẫn xanh, sóng
vỗ hiền ḥa nhưng trong ḷng tôi lại cồn
cào v́ những cơn sóng của chiến sự, của
lo âu, của bối rối. Tôi cũng không biết
rơ ḿnh đang lo lắng về điều ǵ, chỉ
nhận ra là ḿnh đang hoang mang và mất
định hướng.
- Mọi người trong
tàu b́nh yên hả anh Hải. Tôi hỏi một câu
bâng quơ để phá tan sự im lặng.
- Dạ, ông thầy.
Tôi cảm thấy cổ
họng hơi nghẹn nên nuốt một miếng nước
bọt, mới biết miệng ḿnh đắng, giọng nói
khàn đi mặc dù chưa la hét một tiếng nào
từ lúc ban sáng.
- Anh Hải làm ơn
lấy cho tôi một ly nước. Tôi hỏi
- Dạ, có liền ông
thầy
Lúc ấy khoảng hai
giờ chiều, chưa ai trong bọn tôi ăn một
miếng cơm vậy mà vẫn không thấy đói.
- Ḿnh sắp bắt kịp
với đoàn tàu lớn ra đi từ Bộ Tư Lệnh,
Chiến nghe rơ không trả lời!
- Rơ, tao cũng nghe
được tin tức đó trên máy.
Tôi đáp lời Hoan
The sự dự phỏng của
Hoan và tôi, chừng một giờ nữa chúng tôi
sẽ nhập đoàn với những con cá mập ấy.Từ
hướng Đông Nam, tôi nh́n thấy khoảng hơn
một chục chấm đen lớn có, nhỏ có. Cầm
chiếc ống ḍm lên, nh́n xuyên qua các
lăng kính tôi nhận ra cái chấm đen lớn
nhất là một chiếc dương vận hạm (LST).
- Chiếc dương vận
hạm nào vậy, mầy thấy được số không? Tôi
hỏi Hoan
- Không thấy rơ. Để
tao đổi tần số hỏi xem.
Sau một hồi liên
lạc với nhau trên hệ thống vô tuyến,
chúng tôi được biết đó là chiếc Dương
Vận Hạm Thị Nại HQ502. Nơi có một bộ chỉ
huy triệt thoái nhỏ của Bộ Tư Lệnh Hải
Quân đặt bản doanh. Trên chiếc HQ502 có
một số đông tướng, tá của đủ mọi quân
binh chủng. Kể từ giờ phút ấy, chúng tôi
giữ liên lạc để nhận chỉ thị từ chiếc
Dương Vận Hạm Thị Nại.
Khi gần nhập đoàn
với những con cá mập, Hoan và tôi được
lệnh cặp vào chiếc Thị Nại, chuyển người
lên và đánh ch́m tàu để hủy bỏ, c̣n
chiếc HQ229 th́ vầy đoàn ra Côn Sơn.
Chúng tôi tăng vận tốc để bám vào chiếc
502. Mới đầu hạm trưởng 502 ra lệnh cho
chúng tôi cặp vào đuôi tàu, nhưng lúc
tiến sát vào th́ bị sóng cuộn lên từ sau
lái đẩy ra rồi hút vào rất mạnh, có lúc
duyên tốc đĩnh của chúng tôi đập mạnh
vào sườn 502 rất nguy hiểm. Hạm trưởng
bèn chỉ thị cho chúng tôi đổi sang cặp
vào hông phải của HQ502. Ông cho tàu
giảm tốc độ và tạm thời đổi hướng để
hông bên phải được êm sóng hơn. Hoan cho
tôi biết nó sẽ cặp vô trước, rồi hướng
mũi chiếc duyên tốc đĩnh của nó vào nơi
có chiếc thang dây vừa được thả xuống.
Lần này nó vào êm hơn nhiều. Một thủy
thủ quăng dây lên chiếc 502 để được buộc
giữ vào cho sát.
Tôi nh́n lên, thấy
sàn chính của chiếc Thị Nại khá đông
người. Nơi giữa sân có một chiếc trực
thăng của không quân đáp trên đó. Mọi
người trên HQ502 đổ xô về bên hông phải,
nơi chúng tôi đang cặp tàu vào. Thằng
Hoan là người leo lên thang dây trước.
Túi hành lư của nó được các thủy thủ của
chiếc 502 dùng dây kéo lên. Tiếp theo là
Oanh, rồi lần lượt đến các thủy thủ. Cái
cảnh tay bắt mặt mừng lại diễn ra náo
nhiệt trên sân chính của HQ502. Tôi
không thấy được rơ những ai trên đó lúc
này, nhưng độ chừng chắc cũng phải có
các bạn bè thân quen hay cùng khóa.
Chờ cho người trên
tàu Hoan lên hết tàu lớn, chúng tôi mới
cặp chiếc duyên tốc đĩnh của ḿnh vào
cạnh chiếc của Hoan. Phương bước ra sân
mũi, lấy dây buộc vào tàu của Hoan rồi
trở vào nói: - Ông thầy lên trước đi.
Tôi xách hai cái
túi hành lư của ḿnh đi ra sân trước,
đưa mắt nh́n theo chiếc thang dây từ
dưới lên tận sân chính. Mắt tôi bắt gặp
một vài gương mặt quen thuộc. Tôi nhận
ra trong đó có Hổ Cáp 2 Hoàng kim Công,
Đệ Nhị Nhân Mă Nguyễn hữu Tuấn. Tuấn ra
trường khóa 21, có thời gian phục vụ gần
hai năm cùng đơn vị với tôi trên chiếc
HQ474. Cả hai mừng rỡ giơ tay lên vẫy
tôi và chờ đợi.
Tôi bước tới chiếc
thang dây định leo lên, th́ trên ấy bổng
trở nên ồn ào. Rồi cả Tuấn lẫn Công bị
vẹt ra một bên. Một nhóm năm người mặc
quân phục bộ binh và TQLC mang áo phao
màu cam chiếm lấy chiếc thang dây, lần
lượt tuột xuống rồi nhẩy lên chiếc duyên
tốc đĩnh của Hoan đang bỏ trống. Tôi
buông hai cái túi xách xuống nh́n cảnh
tượng ấy với một loạt câu hỏi diễn ra
trong đầu ḿnh.
- Có chuyện ǵ vậy?
Trên ấy không được an ninh sao? Có người
làm loạn chăng?
Tôi nhớ lại tin tức
về các cuộc nổi loạn xảy ra trên vài
chuyến tàu di tản từ miền Trung về Vũng
Tàu, Phú Quốc nên nảy ra những thắc mắc
ấy. Không chờ đợi thêm, tôi lên tiếng
hỏi:
- Có chuyện ǵ
không hay xảy ra trên đó phải không các
anh?
- Dạ không! Trên đó
an toàn lắm.
- Vậy các anh xuống
đây làm ǵ?
- Chúng tôi muốn
quay trở lại Sài-g̣n.
- Sao vậy?
Lúc sáng nay, sau
khi nghe lệnh buông súng của tướng Minh,
tôi đă vội t́m đường bỏ chạy vào Bộ Tư
Lệnh Hải Quân và được hướng dẫn lên tàu
HQ502 này để di tản. Mấy thằng này cũng
như tôi vậy, tụi nó từ Bộ Tư Lệnh TQLC,
Biệt Động Quân ...
Một người trong
nhóm năm người đó trả lời tôi và đưa tay
chỉ về những người kia, rồi tiếp:
- Tụi tôi bỏ chạy
trong lúc hỗn loạn, chỉ mong sao được
thoát thân một cách an toàn. Nhưng đến
bây giờ ngồi nhớ lại mới hay là ḿnh đă
bỏ lại gia-đ́nh, vợ con ở Sài-g̣n. Con
tôi c̣n nhỏ lắm, tôi nhớ nó. Tôi muốn
trở lại với vợ con gia đ́nh, dầu cho cực
khổ tới đâu hay sống chết như thế nào mà
cùng có với nhau th́ cũng cam chịu.
- Tụi tôi cũng như
vậy đó trung úy.
Những người khác
cùng lên tiếng
- Thôi tụi tôi đi,
chúc trung úy may mắn.
Nói xong, họ mở dây
từ tàu lớn cột sang tàu tôi, tháo dây
tàu của họ rồi nổ máy lùi ra và quay đầu
trở lại hướng về đất liền.
Tôi đứng thừ người
ra, những lời nói của họ như một gáo
nước lạnh tạt vào mặt làm tôi như tỉnh
lại sau một cơn mê. Trường hợp của tôi
có khác ǵ họ đâu. Tôi cũng đang bỏ lại
sau lưng vợ con ḿnh. Con tôi c̣n quá
bé, mới có hơn một tháng. Tôi chợt thấy
bóng dáng vợ tôi đang bồng con thơ đứng
ở hiên cửa dơi mắt ngóng trông. Tôi cảm
thấy nhớ mẹ con nàng kinh khiếp. Không
thể được, tôi không thể trốn chạy để t́m
sự an toàn cho một ḿnh tôi được. Thảo
nào từ ban sáng đến giờ tôi cảm thấy lo
lắng, bồn chồn không suy nghĩ được điều
ǵ cho ra lẽ. Bây giờ th́ tôi mới biết
cái mối dây t́nh cảm vô h́nh ấy nó đang
khấy động tâm hồn ḿnh.
Tôi xách hai cái
túi bước trở vào bên trong ca-bin của
duyên tốc đĩnh nơi mọi người đang chờ
đợi đến lượt ḿnh để tiến ra chiếc thang
dây, mặc cho tiếng kêu của Nguyễn hữu
Tuấn và Hoàng kim Công từ sàn chính của
HQ502:
- Ô ḱa Chiến! c̣n
trở vào làm ǵ?
Tôi thuật lại câu
chuyện của nhóm năm người cho mọi người
trong tàu nghe, rồi kết luận:
- Hoàn cảnh của tôi
cũng giống họ, tôi quyết định trở về với
gia đ́nh. Các anh chị và mọi người leo
lên tàu lớn đi, đi. Tôi sẽ lái tàu trở
lại một ḿnh.
Mọi người im lặng,
không ai nói một lời nào và cũng không
có ai bước ra chiếc thang dây.
Một lúc sau, trung
sĩ Hải lên tiếng trước:
- Trung úy lái về
một ḿnh được không?
- Các anh đừng lo,
tôi biết khá nhiều về hải tŕnh và các
cửa biển ở khu vực này. Tôi có thể t́m
đường về Sài-g̣n được.
Sau một phút im
lặng khác, Phương nói:
- Ông thầy trở lại
th́ em cũng đi theo ông thầy - Tôi cũng
đi theo trung úy, sống chết có vợ con!
Hải tiếp lời.
Tôi hướng về những
quân nhân, thường dân và gia đ́nh họ,
những người được tàu tôi rước trên đường
chạy ngang qua Mỹ Tho.
- C̣n các anh chị,
chuẩn bị lên tàu lớn đi.
Mọi người nh́n
nhau, rồi một người trong nhóm đó lên
tiếng:
-Trung úy trở về
th́ tôi cũng đi theo ông.
-Dạ tôi cũng vậy,
nghe thuyền trưởng nói cũng phải.
Rồi họ thay nhau
lên tiếng đ̣i theo tôi trở lại hết.
Thật là bất ngờ,
cái thành ngữ "follow the leader" hay
tạm gọi là "theo người hướng đạo" lại
được mọi người hưởng ứng mạnh mẽ trong
lúc này.
Tôi đă không có th́
giờ để suy xét xem rồi t́nh h́nh sẽ diễn
biến trong những ngày sắp tới ra sao.
Tôi cũng đă không cần biết là quyết định
của ḿnh đúng hay sai, mà chỉ thấy sự
đ̣i hỏi được trở lại đoàn tụ với gia
đ́nh là hơn hết, bất chấp mọi hiểm nguy
hay tương lai đen tối đang chờ đợi. Tôi
cũng không có ư định lôi kéo những người
khác đi theo đường của ḿnh. Nhưng vô
t́nh tôi đă gây ảnh hưởng đến sự lựa
chọn của họ.
Đă hơn ba mươi năm,
những người trong chuyến tàu định mệnh
ấy có những ai c̣n sống sót lại. Bây giờ
họ đang ở đâu? Có mạnh khỏe, b́nh yên
hay không? Có ai trong họ đă trách mắng
và nguyền rủa cái quyết định điên rồ của
tôi trong lúc ấy không? Cái quyết định
đă đưa cả nhóm vào gông cùm của Cộng sản,
hủy hoại cuộc sống, tương lai của họ và
của cả chính bản thân tôi.
Tôi cho mở dây buộc
tàu và quay mũi trở về đất liền, trước
những cặp mắt ngơ ngác từ HQ502 nh́n
theo. Mười lăm phút sau, chúng tôi đuổi
kịp chiếc PCF kia, chiếc duyên tốc đĩnh
mang theo năm người từ HQ502 tuột xuống.
- Các anh biết
đường về không? Tôi lên máy hỏi họ.
- Trong bọn tôi có
một anh người nhái, nên cũng biết chút
ít.
- Mấy anh định ghé
vào đâu?
- Tụi tôi định vào
tới đất liền th́ bỏ tàu lên bờ ngay.
- Các anh có muốn
tháp tùng với tôi về Sai g̣n không? Tôi
sẽ dẫn đường.
- Dạ để vào gần bờ
rồi tính tiếp.
- Tùy mấy anh.
Mặt trời đă xuống
thật thấp, c̣n hơn một sào nữa th́ sẽ
mất hút dưới đường chân trời bờ tây. Hai
chiếc PCF của chúng tôi vẫn chạy sóng
đôi. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp thêm
những chiến hạm khác của Hải Quân và cả
thương thuyền đâm đầu ra biển cả. Trên
tàu nào cũng thấy lố nhố người. Tôi đoán
chắc họ cũng là tàu di tản t́m đường
lánh nạn. Hai giờ sau, chúng tôi đă thấy
dăy đất liền ló dạng trước mặt.
- Tôi sẽ vào cửa
Soài Rạp, các anh có theo tôi không?
- Dạ, trung úy dẫn
đường trước.
Tôi phỏng định vị
trí của tàu ḿnh rồi đổi hướng nhắm vào
cửa Soài Rạp.
Những chuyến hải
hành trong thời gian phục vụ trên Dương
Vận Hạm Qui Nhơn HQ504 và Hỏa Vận Hạm
HQ474 đă cho tôi một số kinh nghiệm căn
bản để nhận ra vùng biển quen thuộc này.
Sau khi vượt qua hàng đáy đầu tiên,
chúng tôi thấy một chiếc LCU của Hải
Quân, loại duyên vận hạm nhỏ có thể chở
được vài chiếc xe tank hoặc GMC từ trong
sông Soài Rạp tiến ra cửa biển. Trên tàu
đầy nghẹt cả người, nhưng không có một
chiếc xe nào trên đó. Tôi nảy ra ư định
t́m hiểu t́nh h́nh hiện tại ở Sài g̣n
nên giảm vận tốc, cho tàu ḿnh tiến gần
lại, sát với chiếc LCU ấy. Người di tản
đầy cả sàn tàu. Thật đúng là không c̣n
chỗ chen chân. Họ là quân nhân, thường
dân, đàn bà, trẻ con và một số rất ít
ông bà cụ lớn tuổi. Người hai bên tàu đổ
dồn về một phía và họ thi nhau hỏi, đáp
như một buổi nhóm chợ.
- Mấy anh từ đâu
chạy ra vậy?
- Từ Sài-g̣n.
- Trong đó có yên
không?
- Cũng lộn xộn chút
đỉnh.
- Có thấy thằng
Việt Cộng nào trong thành phố chưa?
- Tôi không thấy,
nhưng nghe có tiếng súng nổ rời rạc.
- Thấy chiếc T54
nào của tụi nó không?
- Nghe nói, nhưng
chưa thấy.
- Nhà anh ở đâu mà
bỏ chạy?
- Ở Phú Nhuận.
- C̣n chị?
- Ở Sài-g̣n.
Tôi cũng tham gia
vào trong cuộc hội thoại đó, hỏi anh
thuyền trưởng của chiếc LCU:
- Từ Sài G̣n ra đến
đây anh có gặp Việt Cộng không?
- Dạ không.
- Tàu anh có bị du
kích bắn ra không?
- Không, thủy lộ êm
lắm. Không thấy có ǵ khác lạ.
Anh ta ngần ngừ một
lúc rồi hỏi:
- Trung úy và mọi
người trên tàu định đi đâu vậy?
- Tụi tôi trở lại
Sài-g̣n.
- Sao vậy? – Tôi
nhận ra đó cũng là câu mà ḿnh đă hỏi
nhóm năm người tuột xuống từ chiếc Thị
Nại HQ502.
- Tôi c̣n vợ con ở
đó.
Anh ta mím môi, lắc
đầu không nói thêm một lời nào.
Tôi cho anh ta biết
vài chi tiết về đoàn tàu di tản, vị trí
phỏng định, phương hướng và điểm tập
trung Côn Sơn rồi tiếp:
- Anh có cần ǵ
không?
- Dạ không, cám ơn
trung úy.
Từ bên chiếc LCU,
cũng có vài người lên tiếng hỏi về việc
chúng tôi quay trở lại. Tôi không nghe
rơ các câu trả lời. Không biết có ai
trong thuyền của tôi nói là họ đi theo
ông thuyền trưởng hay không (?).
Tôi quay về hướng
người trong thuyền ḿnh hỏi:
- Có anh chị nào
đổi ư muốn đi tiếp không?
- Bây giờ vẫn c̣n
kịp để chuyển sang tàu này.
Tôi nói thêm và chỉ
sang chiếc LCU.
Không có tiếng trả
lời. Nhưng có một thanh niên c̣n rất trẻ
từ chiếc LCU chạy lên sân thượng chỗ
thuyền trưởng LCU đang đứng nói chuyện
với tôi. Anh ta tiến sát lại mạn tàu và
nói:
- Trung úy làm ơn
cho em nhờ một việc
- Chuyện ǵ vậy
anh?
- Nhờ trung úy
chuyển mảnh giấy này về cho Ba Má của em
ở Phú Nhuận theo địa chỉ ghi ở trên đó.
Anh ta vừa nói vừa
trao cho tôi một mảnh giấy xếp nhỏ, bên
ngoài có ghi địa chỉ rồi tiếp:
- Xin trung úy nhắn
lại là em vẫn b́nh yên.
Tôi cầm mảnh giấy
bỏ vào túi áo trên và gật đầu hứa sẽ làm
việc ấy.
- Cám ơn trung úy
nhiều.
Nói xong, người
thanh niên ấy đưa tay chào tôi rồi lủi
trở lại trong đám đông.
Thấy không c̣n ǵ
để nói thêm nên tôi quay sang thuyền
trưởng chiếc LCU:
- Chúc anh đi gặp
nhiều may mắn.
- Dạ, tôi cũng chúc
trung úy và mọi người trở lại b́nh an.
Tôi điều khiển tay
lái cho tàu ḿnh tách ra khỏi chiếc LCU.
Người hai bên tàu vẫn c̣n nói vói sang
những lời từ biệt, và không quên kèm
theo lời chúc may mắn. Tôi nh́n chiếc
LCU một lần cuối rồi tăng vận tốc hướng
mũi tàu thẳng vào sông Soài Rạp.Tôi đâu
có biết rằng ḿnh đang đâm đầu vào một
chiếc bẫy rập. Chiếc bẫy khổng lồ chứa
đầy những sự dối trá, gian manh, lừa đảo
cùng với những bức hiếp, tù đày, nhục
h́nh. Những đặc sản của cái quái thai mà
người ta vẫn hằng mỉa mai là "Thiên
Đường Cộng Sản" đang chực chờ để nuốt
chửng những con mồi ngây dại.
Mặt trời đă khuất
bóng dưới đường chân trời, để lại những
tia sáng lờ mờ yếu ớt của buổi hoàng
hôn. Trên đường tiến sâu vào nội địa,
tôi đảo mắt nh́n chung quanh từ gần rồi
hướng ra xa cố ư t́m chiếc PCF của nhóm
năm người, nhưng không thấy.
- Anh có thấy chiếc
PCF kia đâu không? Tôi hỏi trung sĩ Hải:
- Dạ không, chắc họ
đi trước rồi.
Kể từ đó trở đi,
tôi phải nắm lấy tay lái một ḿnh v́
thủy thủ trên tàu không rành thủy lộ này,
hơn nữa tôi muốn ngăn ngừa bất trắc xảy
ra cho chiếc duyên tốc đĩnh trong lúc
giang hành khi màn đêm đang dần dần
buông xuống. Tôi giữ một vận tốc vừa
phải để có đủ thời gian cần thiết khi
xoay trở, đổi hướng cho được an toàn.
Khi đi ngang qua
Vàm Láng th́ trời đă tối đen. Vàm Láng
là địa danh nằm sát cửa biển. Nơi có một
làng nho nhỏ của ngư dân. Khúc sông ở
nơi đây nở rộng ra, bơi xuồng từ bờ Nam
sang bờ Bắc phải mất gần nửa tiếng. Tàu
thuyền dân sự cũng như chiến hạm của Hải
Quân thường bỏ neo nghỉ ngơi ở khúc sông
này. Tôi nh́n xuyên qua ống ḍm từ bờ
này sang bờ kia đồng thời lắng tai nghe
thật kỹ, cố t́m chiếc PCF kia một lần
nữa nhưng vẫn không nghe thấy ǵ, kể cả
tiếng ghe thuyền dân sự. Có lẽ họ đă ghé
vào bờ nào rồi. Tôi thầm mong cho họ gặp
may. Chúng tôi tiếp tục cuộc hành tŕnh
với nhiều thận trọng, lúc nào cũng quan
sát chung quanh và phía trước để có thể
kịp thời ứng phó với mọi diễn biến mới.
Tuy nhiên chúng tôi đă không gặp một trở
ngại nào, mọi thứ đều im lặng như ḍng
sông hiền ḥa đang ngái ngủ giữa đêm
khuya. Quá nửa đêm th́ chúng tôi đi
ngang qua Nhà Bè. Đây là một ngă tư mà
các thủy lộ quốc tế gặp nhau nên khúc
sông này cũng rộng lớn không thua ǵ
đoạn ở Vàm Láng. Đổ ra cửa biển, bên
trái có sông Ḷng Tàu rồi gặp cửa Cần
Giờ. Bên phải là sông và cửa Soài Rạp mà
chúng tôi đă theo để trở lại đất liền.
Nh́n ngược vào nội địa, bên phải là sông
Đồng Nai và bên trái là sông Sài-g̣n mà
hầu hết chúng ta khó quên được trong câu
ḥ: “Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về
Gia Định Đồng Nai th́ về”. Dĩ nhiên Nhà
Bè cũng là điểm bỏ neo tạm nghỉ chân của
mọi loại thương thuyền dân sự cũng như
các tàu chiến của Hải Quân. Phía bên
trái của chiếc duyên tốc đĩnh chúng tôi
hiện thời là các kho dự trữ xăng dầu của
tư nhân cũng như của quân đội. Đèn trong
ấy vẫn cháy sáng. Tôi không quên được
những lần cặp tàu vào đây khi c̣n phục
vụ trên HQ474 để nhận nhiên liệu rồi chở
đi phân phối cho các đơn vị tiền phương.
Nhiều khi chỉ mới rời Sài-g̣n vài giờ,
vậy mà khi được hạm-trưởng cho đi bờ,
chúng tôi cũng rủ nhau ra đường cái đón
xe trở lại cái thành phố hoa lệ ấy. Tuổi
trẻ nhiều sinh lực và đầy nhiệt huyết,
chúng tôi rất hăng hái trong hầu hết mọi
lănh vực, lúc làm việc cũng như khi lè
phè hưởng thụ. Tôi thường trở lại thăm
“bồ” mà về sau trở thành “bà xă”. Lúc ấy
hai đứa tôi chưa cưới nhau nên c̣n mùi
lắm. Vắng nhau vài giờ th́ đă nhớ không
chịu nổi.
- Trung úy ơi, ḿnh
ghé vào chỗ nào? Phải ở đây không?
Tiếng trung sĩ Hải
kéo tôi trở về với hiện thực.
- Không, ḿnh sẽ
vào luôn tới Sài-g̣n. Ở
đây là Nhà Bè.
-
C̣n bao lâu nữa ông thầy?
-
Cũng hơn một giờ nữa
-
Vậy cũng gần lắm rồi? Có khi nào tụi
Việt Cộng nổ súng vào tàu ḿnh không hả
ông thầy?
Anh
lo ngại điều đó cũng có lư. Chắc ḿnh
phải làm dấu hiệu ǵ để họ nhận ra là
tàu ḿnh trở về tŕnh diện với họ.
-
Hay là ḿnh treo cờ trắng. Phương chêm
vào.
-
Chắc phải làm vậy thôi.
Rồi
chúng tôi bàn với nhau lấy một tấm vải
trải giường xé ra phân nửa treo lên thay
cho cờ quốc gia. Để tránh đi những căng
thẳng có thể xảy ra khi chạm mặt, chúng
tôi cũng đồng t́nh với nhau nên thay đổi
quân phục bằng quần áo dân sự. Sau khi
mặc vào bộ quần áo dân sự, tôi moi ra
hết các bộ quân phục của ḿnh kể cả tiểu
lễ, đại lễ, giày trắng, nón, lon lá, gù
vai… ném xuống ḍng sông đang chảy ra
hướng cửa biển. Trong lúc vội vă, tôi đă
quên đi một chi tiết quan trọng: tôi đă
quên giữ lại mảnh giấy nhắn tin của
chàng thanh niên trẻ tuổi. Mảnh giấy ấy
đă trôi đi với bộ quân phục bị vứt bỏ.
Sau này khi nhớ lại, tôi bị dày ṿ, bứt
rứt không ít với mặc cảm bội tín. Lời
hứa của tôi đă trở thành sáo ngữ vô
dụng.
Tàu
rẽ theo sông Sài-g̣n tiến sâu vào thành
phố. Sau những khoảnh đất trống, nhà cửa
bắt đầu hiện ra thưa thớt rồi dần dần
trở nên dầy đặc hơn. Hai bên bờ sông
thật im lặng; h́nh như mọi người c̣n
đang ngon giấc mặc cho những biến động
đang xảy ra chung quanh. Nhưng chúng tôi
th́ khác, sự lo lắng và chờ đợi khiến
không ai ngủ được. Tôi nh́n đồng hồ trên
cổ tay, c̣n mười lăm phút nữa là bốn giờ
sáng. Khi tàu tiến ngang khu thương cảng
Khánh Hội, mọi người trong tàu đứng lên
và chồm ra hai bên để nh́n lên bờ. Vẫn
không nh́n thấy bóng dáng lính tráng
miền Bắc ở đâu, cũng không có ai trên bờ
biết sự có mặt của chúng tôi trong lúc
này. Không ai thèm để ư đến sự hiện diện
cỏn con của chúng tôi giữa những biến cố
trọng đại đang đổ xuống trên quê hương.
Qua khỏi cầu Tŕnh Minh Thế, rồi nhà
hàng nổi Mỹ Cảnh vẫn không thấy phản ứng
nào của "phía bên kia" từ trên bờ. Tôi
nói với hạ sĩ nhất trọng pháo Phương
đang đứng bên cạnh:
-
Anh Phương lấy trái sáng bắn lên trời
theo hướng dẫn của họ đi. Ḿnh tiếp tục
đi âm thầm như thế này rất nguy hiểm.
-
Dạ, ông thầy.
Sau
tiếng rít xé không gian rồi một tiếng nổ
bụp nhỏ, ánh hỏa châu từ trên cao rọi
xuống xoi rơ chiếc duyên tốc đĩnh lù đù
giữa ḍng sông.
-
Vào đ...ây...ây!
Một
giọng hét vang lên từ trong bờ như tiếng
quỉ gọi hồn từ địa ngục phá tan cái yên
lặng của đêm tối. Rồi một loạt tiếng
lách cách của đạn lên ṇng tiếp theo,
kèm với ánh đèn pin lấp lóe chỉa về
hướng chúng tôi. Tôi chuyển cần điều
khiển máy tàu trở về vị trí ngưng rồi
hướng mũi chỉa thẳng vào chỗ ánh đèn pin
ấy, đồng thời cho máy lùi một vài khoảnh
tích tắc ngắt đoạn để giảm bớt sự va
chạm lúc ủi vào bờ. Phương ném sợi dây
lên để người trên bờ lấy cột vào một trụ
hàng rào. Tàu chúng tôi ủi vào bến Bạch
Đằng, bên trái là nhà hàng nổi Mỹ Cảnh
bên phải là bến cặp cầu Tự Do, trước mặt
là sân gôn (golf), bên kia đường là ṭa
cao ốc nằm chắn gốc đường Hàm Nghi –
h́nh như là của công ty chế tạo sửa
Foremost (?). Và cũng trước mặt tôi là
bốn tên bộ đội tay cầm súng AK, đầu đội
nón cối chân đi dép râu mặt c̣n non
choẹt.
-
Anh nào là thủ trưởng của thuyền này?
Một tên cất tiếng hỏi với giọng miền Bắc
đặc sệt.
-
Tôi đây. Tôi bước ra nhận trách nhiệm
mặc dù có hơi lấn cấn với từ ngữ thủ
trưởng đó.
-
Trên thuyền có bao nhiêu người? Lại một
giọng hỏi miền Bắc khác.
-
Thủy thủ đoàn trên tàu có năm người, c̣n
những người khác là dân thường chạy nạn
được chúng tôi đón giữa đường. Các anh
nên để cho họ trở về nhà để t́m lại thân
nhân.
Bốn
tên bộ đội châu đầu vào nhau bàn tính
một lúc rồi trở lại với chúng tôi:
-
Chúng tôi chấp thuận đề nghị cho thường
dân được tự do trở về nhà, c̣n năm anh
trong thủy thủ đoàn ở lại tàu chờ thủ
trưởng chúng tôi đến quyết định.
-
Bao giờ th́ thủ trưởng các anh đến đây.
Tôi hỏi lại:
-
Không cần hỏi, bao giờ thủ trưởng chúng
tôi đến các anh sẽ hay.
Giọng điệu của kẻ chiến thắng có khác,
tôi lẩm bẩm. Thủy thủ đoàn trên thuyền
thật sự có năm người kể cả tôi. Ngoài
Hải, Phương c̣n có Hùng và Thành. Tôi ít
khi nhắc đến Hùng và Thành v́ họ không
có dịp tiếp xúc với tôi nhiều trong
chuyến tàu ấy.
Những người được chúng tôi rước trên
đường chạy ngang Mỹ Tho lần lượt xách
hành lư rời tàu bước lên bờ. Trông họ
cũng có vẻ vui tươi hớn hở, không c̣n
nét lo lắng như mấy phút trước đây. Chỉ
có vài người quay lại từ giă tôi và các
thủy thủ, c̣n lại th́ cứ lầm lủi mà đi
như cố quên những sóng gió vừa qua. Hai
tên bộ đội trong nhóm xách ba lô, súng,
đạn và các thứ hành trang khác bước
xuống tàu. Một tên nói:
-
Từ giờ trở đi, các anh ở lại thuyền dưới
sự kiểm tra của chúng tôi. Các anh muốn
làm ǵ, đi đâu th́ phải báo cáo.
Chúng tôi nh́n nhau mà không lên tiếng
trả lời. Những người cán binh Cộng Sản
đó nhanh chóng t́m nơi an vị. Một tên
trấn ở pḥng chỉ huy, c̣n tên kia th́
mang hành lư xuống ca-bin nơi thủy thủ
đoàn nghỉ ngơi, sinh hoạt. Trời vẫn c̣n
tối mặc dù đă gần năm giờ sáng. Các thủy
thủ của tôi cũng thấm mệt nên ḅ lên
giường ngủ của ḿnh ngả lưng.
C̣n
tôi th́ đứng nơi pḥng chỉ huy, nghiêng
người lên chiếc bàn nhỏ, chống tay vào
càm nh́n ra ngoài tư lự. Tôi thắc mắc
không biết vợ con ḿnh có b́nh an không.
Giờ này đang ở đâu, làm ǵ. Có sợ hăi mà
bỏ chạy như một số người mà tôi đă gặp
không? Rồi chạy tới đâu, có lên chiếc
tàu nào chạy ra ngoài khơi kia không?
Nếu lỡ có th́ tôi phải làm ǵ đây. Thật
dở khóc dở cười nếu điều ấy thật sự xảy
ra. Tôi lại cảm thấy bồn chồn lo lắng,
chỉ mong trời mau sáng để gặp thủ trưởng
của họ rồi xin về nhà. Tôi gục đầu xuống
bàn, vài giây sau th́ không c̣n biết ǵ
nữa.
Tiếng nói chuyện ồn ào làm tôi giật ḿnh
tỉnh giấc Tôi ngóc đầu lên nh́n ra bên
ngoài. Trời đă sáng tỏ; cái kim ngắn
trên chiếc đồng hồ tay chỉ gần số bảy.
Thành phố Sàig̣n vẫn c̣n nguyên vẹn,
không có nét tàn phá nào sau cuộc chiến.
Một số người đứng trên bờ nh́n xuống tàu
chúng tôi. Tôi thấy họ đưa tay chỉ trỏ
trong lúc nói chuyện. Những người dân
Sài-g̣n thân thương của tôi đó mà, nhưng
sao bây giờ như xa lạ. Họ là những người
đă từng la cà ở bến Bạch Đằng này nhiều
hơn ai hết. Họ đă từng thấy và biết
nhiều về các chiến hạm của Hải Quân Việt
Nam Cộng Ḥa qua lại hay cặp cầu trên
bến cảng này. Trong những ngày tháng
phục vụ trên Dương Vận Hạm Qui Nhơn
HQ504, tàu chúng tôi thường cặp cầu Tự
Do bên tay phải của tôi bây giờ đây. Lúc
đó có thấy người tụ tập chiêm ngưỡng,
ḍm ngó như thế này đâu. Chiến tranh đă
tàn, cục diện đă thay đổi. Gió đă đổi
chiều. Luồng gió mới đó đă biến đổi
chúng tôi thành những con người xa lạ
hay sao? Tôi nh́n lại bản thân ḿnh.
Thật cũng có thay đổi. Tôi đă mất hết
quân phục, gù vai. Mặt mày lại hốc hác,
tóc tai rối bồng. Nhưng bao nhiêu đó
cũng có ǵ lạ lắm đâu. Tôi có cảm tưởng
ngược lại: những người đang đứng ḍm ngó
chúng tôi trên kia chắc là mới từ miền
Bắc vào Nam. Nhưng không, tôi đă sai v́
họ nói tiếng miền Nam đặc sệt mà. Hay là
t́nh h́nh của chúng tôi bây giờ giống
như mấy con vật trong sở thú! Thật là
đau đớn khi phải nói ra những lời so
sánh điên rồ đó. Tôi nghĩ có lẽ họ là
những người ṭ ṃ muốn nh́n thấy bộ mặt
thật của những kẻ thua trận ra sao.
Nhiều người trong đó cười nói vui vẻ ra
điều thích thú lắm. Có ai trong họ cảm
thấy buồn hay chua chát cho chúng tôi
không? Số người ṭ ṃ càng lúc tụ tập
càng đông hơn. Thật là xấu hổ! Tôi không
chịu nổi nữa nên bỏ đi vào bên trong,
rồi ra sân sau t́m chỗ ngồi để tránh né
đám người đó. Nh́n vào trong, tôi thấy
hai tên cán binh miền Bắc đang sửa lại
quân phục có vẻ như chuẩn bị để lên bờ
hay đón tiếp ai. Lúc này trời đang sáng
tỏ; nh́n kỹ lại thấy họ quả thật c̣n rất
trẻ, chắc không quá hai mươi tuổi. Tôi
cầu mong thủ trưởng của họ mau mau đến
đây để ḿnh c̣n hy vọng được trở về nhà
sớm.
Trong lúc đang lo nghĩ vẩn vơ, tôi chợt
thấy một thanh niên chập choạng đi xuống
dưới nước phía bên trái mạn tàu. Không
biết anh ta từ trên bờ tuột xuống dưới
đó từ lúc nào. Anh chàng nầy cũng lạ,
mới sáng sớm mà đă tắm sông. Tôi nghĩ
như vậy rồi nh́n lên bờ, thấy thiên hạ
vẫn ḍm ngó xuống tàu ḿnh; h́nh như
không ai để ư đến người thanh niên ấy.
Người thanh niên đó tiếp tục đi xuống
nước, vừa đi vừa khoát nước lên người,
lên mặt ra điều thích thú. Anh ta xuống
sâu hơn dưới nước, càng lúc càng xa bờ.
Nước lên khỏi đầu gối, lưng quần, rồi
ngang ngực. Tôi thấy anh ta lặn ngụp mà
hai tay vẫn đưa lên khỏi mặt nước bơi,
đập. Đột nhiên không thấy anh ta ló đầu
lên nhiều như lúc đầu, nhưng lúc nào
trồi lên th́ mồm há hốc và lại ch́m
xuống nước ngay tức khắc. Rơ ràng là
người không biết bơi. Nếu không được
giúp đỡ, kéo lên kịp thời th́ sẽ chết
đuối trong khoảnh khắc. Tôi nh́n lên bờ
thấy cũng có một ít người theo dơi thanh
niên này. Tôi thầm mong có ai trong đó
lội xuống cứu anh. Thế nhưng mọi người
vẫn đứng yên bất động. Tôi sốt ruột nh́n
anh ta, bây giờ th́ không thấy đầu ló
lên nữa mà chỉ c̣n thấy hai tay bập bềnh
trên mặt nước, yếu ớt. Tôi không chịu
được và cũng không muốn nh́n một mạng
sống bị tướt đoạt một cách vô lư, bèn
cởi áo tháo giày nhảy ṭm xuống nước.
Tôi nhanh chóng bơi tới chỗ thanh niên
đang hụt hẫng ấy. Chỗ đó cách xa bờ hơn
hai mươi thước. Tôi dùng chân ḿnh để ḍ
t́m đáy sông nhưng không chạm đến được
nên độ chừng nơi ấy cũng khá sâu. Tôi
dùng tay trái nắm lấy tay anh ta và nâng
lên khỏi mặt nước. Đúng là chết đuối gặp
phải phao, người thanh niên đó quơ tay
và vội vàng ôm chặt lấy cổ tôi. Tôi nói
lớn vừa đủ cho anh ta nghe: Anh vịn vai
tôi thôi. Đừng ôm cổ, tôi bị nghẹt thở
và khó có thể bơi được vào bờ. Không
biết anh ta có nghe tôi nói ǵ không mà
không thấy có phản ứng. Tôi phải gỡ tay
anh ta ra khỏi cổ và đặt lên vai phải
của ḿnh. Lúc chân chạm đất, tôi xóc
nách và d́u anh ta lên bờ. Đi được vài
bước, tôi thử buông ra để anh tự đi.
Nhưng như cọng bún, anh ta quỵ xuống.
Tôi lại tiếp tục xóc vào nách và vác anh
lên đến tận trên sân đánh gôn. Tôi biết
là lúc này mọi người đang bu lại nh́n
chúng tôi đông lắm, nhưng cố lờ đi làm
như không thấy ai hết để c̣n có đủ can
đảm tiếp tục công việc ḿnh đang làm.
Thật là khốn khổ! Điều ḿnh lo sợ nó lại
đến. Tôi đang cố trốn chạy, né tránh mọi
người mà. Trời ơi! Sao lại là tôi? Tại
sao tôi phải làm việc ấy. Tại sao không
có ai khác làm thay cho tôi. Tôi cắn
răng chịu đựng với những ư nghĩ không
yên đó.
Tôi
đặt người gần chết đuối nằm sấp bụng
trên một g̣ đất cao, rồi dạng hai chân
đứng hai bên hông của anh đoạn cuối
xuống dùng hai tay nâng bụng lên, rồi
buông xuống. Sau vài động tác cứu cấp mà
tôi học lóm được của những người đi
trước, anh thanh niên đó ọc ra một vài
ngụm nước. Tôi lật người anh ta ngửa
lên, và cũng bắt chước dùng hai tay chập
lại nhồi lên ngực anh ta mấy lần (sau
này có dịp được học phương pháp cứu cấp
CPR ở Hoa Kỳ mới biết lúc ấy ḿnh làm
không đúng cách). Anh ta thở kh́ ra mấy
hơi, tay chân bắt đầu quờ quạng nhiều
hơn trước. Tôi nghĩ chắc anh ta đă qua
khỏi cơn nguy hiểm nên nói vừa đủ cho
anh ta nghe:
Anh
nằm nghỉ thêm cho khỏe, chắc không sao
đâu.
Không nghe thanh niên ấy nói ǵ, nhưng
tôi nghĩ anh ta chắc không chết đâu nên
đứng lên đi trở về tàu. Tôi đi thật
nhanh như chạy trốn, không nh́n một ai
và cũng không để ư đến những sự việc
chung quanh. Sau khi thay quần áo, tôi
sốt ruột chờ đợi thủ trưởng của những
người đội nón cối kia, nhưng vẫn không
thấy tăm hơi nên đến nói với họ:
-
Các anh có biết bao giờ thủ trưởng của
các anh đến đây không? - Có lẽ trong
sáng hôm nay thôi, nhưng không chắc lắm.
-
Tôi muốn lên trên bờ ăn sáng, các anh
thấy được không?
-
Được thôi.
Tôi
không ngờ họ chấp thuận một cách mau lẹ
như vậy, nên quay qua hỏi thủy thủ của
ḿnh:
-
Anh Hải, Phương, Hùng và Thành muốn đi
ăn sáng với tôi không?
-
Dạ thôi, anh Chiến đi trước đi. Tụi tôi
đi sau.
Thật bất ngờ, thủy thủ của tôi đă đổi
cách xưng hô. Nhưng tôi nghĩ họ đă làm
đúng. Xưng hô như thế th́ hợp thời quá
rồi, c̣n ǵ. Hôm ấy là sáng mồng một
tháng năm. Thành phố Sài-g̣n chan ḥa
ánh nắng ban mai. Cỏ cây hoa lá vẫn đua
nhau khoe muôn ngàn sắc thắm. Thiên
nhiên vẫn lạnh lùng tiến bước với nhịp
điệu của thời gian. Tôi bước đi trong
một ngày đẹp trời như thế với cả một tâm
tư trĩu nặng. Bước vội qua đại lộ Bạch
Đằng, tôi tiến thẳng vào đại lộ Hàm Nghi
mà cũng không biết ḿnh đi đâu. Tôi cảm
thấy đói chút ít, nhưng c̣n bụng dạ nào
mà ăn. Chẳng qua tôi muốn lánh đi cái
đám đông tàn nhẫn ấy. Đại lộ Hàm Nghi
vẫn có tiếng là tấp nập v́ những hoạt
động thương mại sầm uất, nhưng hôm nay
lại càng ồn ào náo nhiệt. Người ở đâu mà
đầy nghẹt cả đường phố, không c̣n chỗ
chen chân. Các cửa hàng vẫn mở, buôn bán
mời chào. Quán hàng rong và những người
bán hàng chợ trời càng đông hơn mọi lúc.
Chính giữa đường th́ chen chúc đủ các
loại xe đang thi nhau bóp kèn inh ỏi.
Nhưng đặc biệt có vài loại xe không cần
bóp kèn mà mọi người phải mau lẹ né
tránh nhường lối. Đó là những chiếc jeep
của quân đội hay cảnh sát Việt Nam Cộng
Ḥa mà giờ đây được những thanh thiếu
niên mặt c̣n hôi sữa sử dụng. Cờ đỏ treo
trên các cần “ăng-ten”. Họ ngồi đầy trên
xe, mặc đồ dân sự với băng đỏ mang trên
cánh tay hoặc cột trên đầu, tay ôm súng
M16, Carbine. Cộng thêm vào đó là những
chiếc Honda cũng với những chàng thanh
niên đèo nhau, trang phục giống như vậy.
Thỉnh thoảng họ bắn lên trời vài tiếng
súng đ́ đùng làm mọi người kinh hăi. Tôi
nghĩ chắc họ là người của “Cách Mạng”,
nhưng sau này mới biết rơ đó là những
tên "Việt Cộng Ba Mươi Tháng Tư".
Khi
đi ngang qua chỗ bán hàng chợ trời, tôi
thấy có mấy người bày bán đủ các loại
hàng lậu mang nhăn hiệu Hoa Kỳ. Từ xà
bông giặt, xà bông tắm cho đến dao cạo
râu, thuốc dùng sau khi cạo râu, quần
lót, áo thun của lính cho đến các loại
lương khô, thực phẩm đóng hộp... Tôi
chợt thấy trong mớ hàng hóa đó có mấy
bao đường cát trắng C&H mà tôi biết vợ
ḿnh rất thích xài, nên ngồi xuống hỏi
mua. Không cần trả giá, tôi móc túi mua
đại một bao loại năm cân (5 lbs). – Về
sau, khi ra khỏi trại tù cải tạo tôi đă
nh́n thấy cái bao đường ấy c̣n nguyên
trong góc tủ. Vợ tôi cho biết, nàng muốn
giữ nguyên bao đường như một kỷ vật nhắc
nhớ đến người đi xa. Ôm bao đường cát,
tôi tiếp tục đi về hướng công trường
Quách thị Trang. Người đi trên đường phố
càng lúc càng đông. Tôi phải chật vật
lắm và phải mất đến hai mươi phút sau
mới đến gần được cái “bồn binh” ấy.
Tiếng máy nổ của xe cộ đột nhiên trở nên
rầm rộ, vang rền điếc cả tai. Tôi nh́n
ra đường dáo dác t́m kiếm xem tiếng máy
ấy phát ra từ chiếc xe nào. Hướng mắt về
đại lộ Trần Hưng Đạo, tôi thấy mọi người
đang xôn xao đổ ra đường, đồng thời tôi
cũng nghe những tiếng máy nổ thật lớn từ
hướng đó. Người trên đường bỗng vẹt ra
hai bên rồi giơ tay reo ḥ ầm ĩ. Một
chiếc xe tăng T54 ló dạng ở đầu đường
Trần Hưng Đạo. Rồi một chiếc khác, một
chiếc khác, một chiếc khác nữa... lần
lượt xuất đầu lộ diện. Trên những chiếc
xe tăng màu cứt ngựa c̣n bết bụi, śnh
lầy ấy là những cán binh Cộng Sản. Những
người cán binh Cộng Sản chân mang dép
râu đầu đội nón cối, có người đội nón
vải ka-ki kiểu lính lái xe tăng của
Liên–xô, mặt tươi cười sáng rỡ tay cầm
cờ đỏ sao vàng hay cờ của Mặt Trận Giải
Phóng và dĩ nhiên cả súng AK, phất cao.
Người trên xe đă reo ḥ mà người dưới
đất c̣n la to hơn; có người cũng cầm cờ
Cộng Sản phất qua, vẫy lại. Khung cảnh
trở nên náo nhiệt và sôi động như vỡ
chợ. Họ la hét những câu ǵ tôi không
nghe rơ, nhưng mặt mày họ cũng rạng rỡ
không thua ǵ những cán binh Cộng Sản
kia.
Người dân Sài-g̣n thân yêu của tôi đây
mà! Tôi đă phải ngậm ngùi lập lại câu đó
một lần nữa. Mấy năm trước đây cũng
những người ấy, cũng những gương mặt
rạng rỡ đó đă reo vui chào đón những anh
chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa diễn hành
trên đại lộ Trần Hưng Đạo. Tôi thật
không hiểu được. Hôm nay họ reo vui chào
đón những người Cộng Sản hay họ mừng rỡ
v́ chiến tranh đă tàn. Tôi cúi đầu nh́n
đi chỗ khác, chợt bắt gặp một vài gương
mặt cũng buồn hiu và câm lặng như ḿnh.
Đoàn xe T54 tiếp tục chạy ṿng theo công
trường Quách thị Trang rồi chia ra mấy
chiếc rẽ xuống đại lộ Hàm Nghi, c̣n lại
th́ tiến thẳng vào đại lộ Lê Lợi. Tiếng
xích sắt nghiền trên mặt đường nghe rung
chuyển cả một góc phố. Tôi lặng người
nh́n những chiếc xe tăng và cảm thấy như
có ai đó đă mang quả tim ḿnh ra đặt
trên mặt đường dưới những lằn xích sắt
tàn ác ấy.
Tôi
bước qua góc bên kia đường Hàm Nghi, nơi
có một số xe Honda đang đậu. - Anh có
chạy xe ôm không vậy anh. Tôi hỏi một
người đàn ông ngồi trên xe.
-
Anh muốn đi về đâu.
-
Làm ơn chở tôi về quận 5, ngă tư Thành
Thái và Trần b́nh Trọng.
-
Lên xe đi.
Người chạy xe Honda bỏ tôi xuống đầu một
ngơ hẻm đường Trần b́nh Trọng theo sự
chỉ dẫn của tôi. Tôi vét túi trả tiền và
cám ơn anh ta, rồi ôm bao đường cát đi
vào trong hẻm.
Má
vợ tôi là người đầu tiên tôi chạm mặt.
Bà đang loay hoay quét dọn trước sân
nhà, và đă la lên khi ngước mặt nh́n
thấy tôi:
-
Ủa Chiến, con mới về hả.
-
Dạ!
Rồi
bà quay vào bên trong nhà nói lớn: - Mấy
đứa ơi, Lan ơi anh Chiến về.
Tôi
không chờ đợi mà chạy đại lên lầu, gặp
mấy đứa em vợ đứng gần cầu thang. Chúng
nó kêu:
-
Anh Ba, anh mới về hả.
-
Ừ.
Tôi
đáp rồi tiến thẳng đến ngưỡng cửa nơi vợ
tôi đang ôm con đứng chờ. Tôi không bao
giờ quên được gương mặt xanh xao, đôi
mắt lo âu mà mừng rỡ ấy. Tôi tràn tới ôm
cả hai vào trong ṿng tay. Cả tôi và
nàng, không ai nói một câu. Tôi xiết
chặt vợ con trong tay mà nghe tim ḿnh
thổn thức. Tôi muốn ôm giữ thật kỷ cái
bảo vật tưởng như đă mất nay lại t́m
được. Con tôi chợt khóc thét lên. Tôi
đưa tay bồng con, quay qua thấy một đôi
mắt long lanh đang nh́n ḿnh, cái nh́n
hớn hở và chan chứa.
Hơn
một tháng sau tôi khăn gói đến trung tâm
Trần Hoàng Quân, tŕnh diện học tập cải
tạo theo lệnh của quân quản Sài-g̣n. Từ
hôm ấy, tôi lại bắt đầu một khúc quanh
mới của đời ḿnh. Một khúc quanh
đầy cay nghiệt.
Huỳnh kim Chiến
CUỘC DI TẢN BUỒN
ĐÀ NẲNG
Thành phố Đà Nẳng trở nên rối loạn
khi măt trận Tây Nguyên tan ră, và
có lẻ biến cố Tết Mậu Thân như một
cơn ác mộng vẩn c̣n kinh hoàn chập
chờn trong tim óc của người dân miền
Trung , cho nên từ Quảng Tri miền
đia đầu giới tuyến trở vào Huế, và
bằng tất cả mọi phương tiện, người
ta bồng bế, gánh gồng, chen chúc
nhau trên quốc lộ 1 đổ vào Đà Nẳng.
Dân chúng từ Tây Nguyên cũng nhắm
hướng Đà Nẳng tràn xuống như nước vở
bờ. Ngoài ra đủ các màu áo lính, với
vủ khí trên tay lang thang trên
đường phố, tôi c̣n thấy cả nhửng
người mặc civil mà lai đeo súng trên
vai, đố biêt ai là bạn hay ai là thù,
thật hồn loạn, thật nguy hiểm.
Trong người của tôi chỉ có khẩu súng
Colt 45 , bộ đồ xanh 4 túi HQ với huy
hiêu HĐ1ZP để chứng minh cho mọi người
tôi là môt SQHQ/V1ZH, thế thôi. T́nh
thế không mấy tốt đẹp, tôi vội vàng xách
chiếc xe Honda Dam chạy qua Sơn Chà để
vào Hải Đội, thông thường tôi chỉ cần
xuống bến phà sông Hàn đi phà qua sông
là con đường ngắn nhất để vào bộ tư lệnh
vùng 1 zuyên hải, tưởng cũng nên nhắc
lại phà qua sông Hàn này cũng là nơi kỷ
niệm lúc nhac si Nhât Ngân đưa người yêu
qua sông, cho nên Nhât Ngân đă cảm tác
bài” Tôi Đưa Em Sang Sông”.. nhưng phà
đâu chẳng thấy, và các em nử sinh trung
học thường đón phà qua sông hàng ngày
cũng vắng bóng.Tôi vôi vàng lái thẳng
qua cầu De Lattre( cầu Trinh Minh Thế)
để vào đơn vị.
Tôi, cũng như hàng trăm người đủ mọi
quân binh chủng và dân chúng bị Quân
Cảnh và lính Hải Quân chận lại ngay
cổng CCYT/TV/ĐN, với chục hàng khoanh
kẻm gai tṛn, cho dù tôi cố gắng hét to
là tôi là môt quân nhân HQ vùng môt ZH,
tiếng hét , tiếng la to của tôi cũng
chằng vang vong được ǵ, ngoai trừ tiếng
kêu khóc của trẻ con kề cả người lớn.
Tôi thấy môt ông khoảng chừng 45 hay 50
măc bộ đồ quân phuc HQ bac màu, không
mủ, không huy hiêu, vừa đi vừa nói lảm
nhảm môt ḿnh như người mât trí, có lẻ
gia đ́nh chia ly, tang tóc… T́nh thế
không cho phép tôi đứng chờ, hay có môt
phép lạ là quân cảnh và lính HQ sẻ mở
hàng chuc cuộn dây kèm gai để cho mọi
người vào, và tôi cũng đươc biết là các
quân nhân bô binh, nhất là lực lương
nhảy toán Long Thành, thuộc Nha Kỷ
Thuật, đơn vị đồn trú tai Sơn Chà đă nổ
sung thị uy để t́m cách vào căn cứ, v́
họ biết rằng chỉ c̣n môt phương tiện duy
nhât là đường biển để di tản vào Nam.
Tôi lái chiếc Honda từ Sơn Trà chạy
ngươc về hướng Đà Nẳng, trên đường tôi
thấy đoàn xe của Bộ Tư Linh Quân Đoàn 1
căn cứ đóng tại tai phi trường quân sự
Đà Nẳng đă di chuyển và có lẻ phi trường
đă bỏ ngỏ, từng đoàn công voa nối đuôi
nhau, vợ con, thân nhân và gia đ́nh binh
sỉ trên xe nheo nhóc, hành lư và ba đồ
lỉnh kỉnh chồng chất trên xe, có lẻ họ
xuôi về hướng Quảng Ngải hay đi về phía
Nha Trang hay dồn qua căn cứ Hải Quân
Tiên Sa, không ai rỏ.
Tin tức chiến sự không khả quan, Pleiku
và Banmethuôt đă mất , các tỉnh miền
duyên hải làm sao mà đứng vửng, lại có
tin chiến xa VC T 54 từ Non Nước trưc
chỉ tấn công thành phố Đà Nẳng. Ngoài ra
nhiều tin đồn mà ai cũng cho là có giá
tri là VNCH đă đồng ư cắt cho MTGPMN từ
cửa Sa Huỳnh Quảng Ngải trở ra cửa
Việt…tôi cấp tôc trở lại nhà cha mẹ vợ
tại gần trường trung học Phan Châu
Trinh, tai đây tôi gặp môt số SQ Cảnh
Sát cấp Đai Úy , ho biết tôi qua môt vài
lần ăn nhậu thân hửu tai nhà bố vơ, họ
nghỉ rằng tôi là môt SQ lái tàu có thể
giúp gia đ́nh ho di tản vào Nam, nhưng
khi ho biết rằng tôi cũng đang bi ket
không vào căn cứ HQ được, cho nên ho
nhanh chân lo t́m phương cách khác.
Trong thời c̣n tuổi trẻ, trời phú cho
tôi đươc cái là nhanh nhen, giọng nó to,
và phản ứng rất nhanh trong bất cứ hoàn
cảnh nào, do đó, tôi nói với gia đ́nh vợ
là nên đi vào Nam, phải quyết định cấp
kỳ, và tôi không chậm trể lái xe honda
chạy ra sông Hàn t́m một ghe dân vừa đủ
cho đại gia đ́nh , mấy ngày trước đó me
tôi và em trai đă đươc người bạn
thânTrần Hùng Cân cho lên tàu 504 đi
trước. Trong lúc tôi đưa me và em lên
tàu và nhờ Cận lo cho mẹ và em tôi, tại
đây tôi gặp đứa em trai của Lưu Văn Lể
trên chiên ham môt ḿnh, tôi căn dăn em
trai tôi lo cho thằng nhỏ này.
Chiếc ghe dân tôi mướn với giá cắt cổ
bằng cả tháng lương Trung Úy của tôi,
nhưng t́nh thế này không c̣n cách nào
khác, tôi chạy vôi về nhà vợ báo là ghe
đang chờ tai sông Hàn, gia đ́nh quyêt
đinh vào Nam nên đă chuẩn bi khá đầy đủ,
lương thưc, áo quần,và hai chiêc Honda.
Với quân phuc mang lon Trung Úy, tôi
luôn đứng đầu mủi ghe trưc chỉ Hai Đôi
tiến vào, tôi đă quyết định đúng là mướn
ghe, không có môt cản trở nào trên biển,
tôi củng không c̣n tâm trí để ư những ǵ
xung quanh, tối hướng dẩn cho ông chủ
ghe hướng tiến, tôi nh́n lên cầu Hải Đội,
chỉ c̣n hai chiếc PCF cập cầu, trên tàu
đông đúc người , một chiếc 3876 do Tr/Úy
Nhưt làm thuyền trưởng, lường tàu ch́m
sâu trông thấy rỏ v́ nặng, nghe nói tàu
bi hư và hỏng môt chân vit, nhưng sau
này khi chúng tôi ra khơi, tôi biết 3876
lẹt đẹt gần Cù lao Chàm.
Ghe tôi vừa câp cầu HĐ tức th́ môt Trung
Si HQ la lên, ông trưởng ơi, tàu này cần
thuyền trưởng, củng nhắc lai là tôi hồi
đó là thuyền trưởng PCF 3882 đang nằm
Đai kỳ tai CCYT, và thông thường lính
kêu thuyền trưởng tàu là ông trưởng.
Nhanh như chớp, tôi đươc anh em HQ trên
chiếc PCF phu giúp đưa tất ca gia đinh
đồ đac và hai chiêc xe Honda lên tàu.
Bổng nhiên môt Si Quan từ trên bờ chay
xuống, đó là Trung Úy Pham Phước Tề
thuyền trưởng chiêc tàu tôi mới lên,
Trung Úy Tề trong môt phút giao đông rút
súng colt 45 chỉa vào ngưc tôi và hét
lớn: tai sao mi lấy tàu tau….Tôi là môt
thằng rất nóng tánh, nhưng lúc đó tôi
b́nh tỉnh môt cách lạ thường, tôi cũng
rút súng colt cũa tôi dắt sau lưng và
lên đạn…tôi nói rât ôn tồn..Tề…súng tau
lên đạn . c̣n súng mày th́ chưa, tao chỉ
nhờ tàu mày đưa gia đ́nh ra khơi, rồi
tao sẻ t́m thằng ban khác rước tao, anh
em lính trên tàu củng lên tiếng phụ vào
khuyên can, sau đó moi chuyên coi như
giải quyêt xong, nếu anh em HQ chứng
kiến sư viêc trên trong ngày di tản buồn
th́ coi như là môt kỷ niêm, và tôi cám
ơn anh em đă giúp tôi và gia đ́nh lên
tàu. Củng nhắc lai Tr/Uy Tề, tôi không
hiêu v́ sao có tàu trên tay nhưng lai
kẹt lai và đi hoc cải tao rât lâu, găp
hắn trong kỳ Đai Hôi Lưu Đày tai
Washington, nhắc lai chuyên củ khi đang
uống rượu trong pḥng khách sạn của nhà
thơ lưu đày” Nát Rượu” Đức Phổ , Tề cười
như mếu, nhắc chuyên củ trong niềm cay
đắng ngâm ngùi, hỏi Tề, hắn nói gia đ́nh
ở Huế kẹt nên không thể ra đi, củng là
môt người con có hiếu.
Ra khơi, tôi liên lac đươc với thuyền
trưởng Nguyễn hửu Lâu ngưởi ban đồng môn
và đồng chiến hửu, cũng nhăc lai câu
chuyên vui buồn trong thời gian thu huấn
tai Trưởng BB Thủ Đức, luc đó tôi là
huynh trưởng khóa 6/69 mà ban bè hay nói
là Đai Đoi Trưởng cả đời, và huynh
trưởng cả đời, bởi v́ cái giong hét của
tôi rất to, đàn em rât ớn…mà làm Đai Đôi
Trưởng lai cần phải uy phong lẩm liêt
chứ..Tôi nhận ra Lâu và huy hiêu khóa
đàn em 1/70 từ xa tiế tới, tôi ra linh ,
anh kia đứng đó, quay lưng lai…đàng sau
quay , ư tôi không cho Lâu biết tôi là
ai, Lâu làm đông tác rất nghiêm chỉnh,
tôi nói anh là tân khóa sinh tại sao lai
đi bộ, phải chạy..anh hit đất 100 cái
cho tôi…dạ tuân lịnh..Lâu hít đất đươc
vài cái tôi bảo đứng lên và tŕnh diện
tôi…Đ..M mày Lac hả..
Thuyền trưởng Lâu căp kè với chiêc tầu
tôi đang đi nhờ và chúng tôi lai môt lần
nửa di tản đồ đạc và xe lên tầu Tr/Uy
Lâu. Cám ơn bạn Lâu trong cuôc di tản
buồn.
Bây giờ hai thuyền trưởng trên chiêc PCF,
tôi và Lâu rât vửng tin cho cuôc hành
tŕnh không phương hướng, không lệnh lạc,
mổi thuyền trưởng tự động giải quyết mọi
vấn đề theo phương cách riêng, chúng tôi
và cả đoàn tàu HĐ nằm trong vi thế chờ
linh,nghe ngóng, án binh bất động gần bộ
Tư Linh V1ZH, trên măt biền, vô số tàu
thuyền, duyên đoàn, hạm đồi, ghe dân, xà
lang quân vận…thoạt nhiên trong đêm
khuya, trên tấn số truyền tin tôi nghe
giong nói giận dử của HQ/ĐaiÚy Lê Khuê
Hào ..
Đ M mày …… mày gat tao, mày bỏ tao..
…Hào..b́nh tỉnh đi…ĐM con C …mày là
thằng đểu, đ m…sau này tôi mới biết Đ/U
Hào đươc câp chi huy phong chức Chỉ Huy
Trưởng hậu cứ, , sự thật th́ cac quan
to và gia đ́nh đă cao bay xa chạy lên
soái hạm hoăc tàu lớn an toàn cả rồi,
nhưng các quan to vẩn c̣n…. lo lắng…
cho đơn vi, cho nên cắt cử quyền Chỉ Huy
Trưởng hậu cứ cho đàn em lảnh trách
nhiệm cho chắc ăn. Đai úy Hào bị kẹt
trong căn cứ, tất cà tàu đều rút ra khơi,
trong căn cứ HQ, các quân binh chủng kể
cà dân chúng đă tràn vào với hy vọng có
tàu HQ cứu họ . Trong đêm có môt chiếc
PCF âm thầm lằng lẻ tiếp cận được bộ chỉ
huy hậu cứ và đưa Đai Úy Hào ra biển.
Lai nghe trên máy 46…”t́m con cá để rước
Đô Đôc Hồ văn kỳ Thoại đang ket trong bờ”…VC
đang pháo kich đúng vào BTL/V1ZH dử lắm…và
sau thời gian khoảng hai tiếng đồng hồ
trên máy báo cáo đă bốc đươc Tư Linh
Thoai và số SQ va binh linh đi theo.
Ngày 25 tháng 3 , cả đoàn tàu di tản
xuôi về Nam, chúng tôi trưc chỉ Cù Lao
Ré, Đảo Lư Sơn và nghỉ ngơi ở đó , tàu
tôi căp kè với PCF có Trung Úy Nhiên
trên đó, Nhiên đem theo người em trai ,
và tôi nhớ măi giọng nó như con gái …anh
Lac ơi!! Đi c̣n xa không, em mệt lắm…tôi
trả lời..ráng lên, củng gần tới rồi…và
sau đó chúng tôi đến vinh Cam Ranh.
CAM RANH
Chiếc PCF của Lâu căp cầu HQ Cam Ranh ,
tại đây không hẹn mà găp, từ PCF, Coast
Guard cho đến đủ loại tàu, ghe, giang,
duyên đoàn tấp nâp bỏ neo xung quanh môt
cách vô trât tự. Lâu bàn với tôi là cho
Lâu vào cầu đá Cam Ranh,gần đó là nhà em
gái hậu phương nơi mà tôi và Bùi Tho
Xung hay tá túc trong nhà của em gái hâu
phương mổi cuối tuần trong thời gian thu
huân khóa thuyền trưởng Cam Ranh năm nào…
Lâu nói cần đi về nhà t́m gia đ́nh, trên
tàu có sẳn môt chiếc Vespa, và Lâu giao
trách nhiêm cho tôi kể từ giờ phút đó,
Lâu c̣n căn dặn với tôi là ngày hôm sau
đến lai cầu đá này để rước tao…
Bây giờ tôi hoàn toàn có đủ quyền hạn
thât sự trên tàu , tôi lấy môt chiếc
Honda đưa lên bờ và chạy ra phố Cam Ranh,
t́m đến nhà Cậu của tôi gần đó, gia
đ́nh Cậu tôi nhất quyết không đi đâu,
gia đ́nh có vựa gổ rất lớn tai đây, có
lẻ không muốn bỏ cơ nghiêp ra đi. Tôi
lái xe trên đường ra lại cầu tàu, các
phố nhà có cửa sắt hai bên đường đang bị
nhửng đám đông đâp phá hôi của, cảnh hổn
loạn hai bên đường trông rất nguy hiểm,
và tôi củng nghe trại tù ở Nha Trang đă
bi phá vở, dân chúng hồn loạn, đich đă
tới cữa ngỏ Nha Trang, chiêc PCF vẩn c̣n
chờ tôi ở cầu, thật sư tôi thật là liều
lỉnh , nếu trên tàu họ lấy tàu ra khơi
th́ có lẻ tôi kẹt lại Cam Ranh ..Tôi
lái tàu trở lại căn cứ HQ /V2ZH, trên
biển, môt chiếc tàu nhỏ của lưc lượng
pḥng thủ hải cảng tiến lại ,trên tàu họ
đang áp giải năm người đàn ông măc dân
phuc, họ nói rằng cần giao các đặc công
này cho tôi, tôi trả lời rằng, tôi không
có trách nhiệm tai vùng này, tôi từ vùng
1 vào đây, sau đó họ bỏ đi..trên đường
trở về căn cứ, tôi thấy chiếc HQ504
đang căp cầu, nơi mà lưc lương HQ Mỷ
đóng hồi Mỷ c̣n tham chiến tai VN, trong
ḷng tôi lo lắng là me, và em tôi và em
ruôt của Lưu Văn Lể đang ở đâu, hay là
tàu 504 cho ho xuống bờ đâu đó, tôi cho
PCF vào môt nơi rất vắng vẻ, xung quanh
tôi thấy nhửng chiếc pontoon sét rỉ,trên
pontoon tôi thấy xác trẻ con chết đă lên
mùi, tôi căn dặn với anh em cơ hửu và
gia đ́nh vợ là chờ tôi, tôi lên bải đât
la liêt người qua lai, với cái nóng Cam
Ranh trong tiết tháng ba, nhựa trên mặt
đường nhèo nhẹt, dính cả đế giày, t́nh
h́nh trở nên rất nghiêm trọng trên bải
đât, h́nh như không có đươc giot nước
nào trên đó, không thưc phẩm, không nước
ngot, không có phương tiện di chuyển,
làm sao mà họ sống, tôi tự hỏi trong đầu…bổng
nhiên có môt Trung Uy HQ chạy tới tôi,
và la lên tàu đâu?tầu đâu ? vi SQ này
nh́n thấy huy hiệu Hải Đội nên nghỉ rằng
tôi có tàu, tức th́ lính TQLC-BĐQ chay
đến bao xung quanh tôi, tôi nhanh miêng
nói rằng tôi củng như các anh bị tàu lớn
đổ xuống đây, và mẹ và em bị thất lạc
nên tôi đi lang thang t́m gia đ́nh..
đám đông lại bỏ đi loanh quanh trên bải,
chắc mổi người có một hoàn cảnh gia đ́nh
thất lac như nhau.. tôi vội vàng lẩn
trong đám đông và trở lai PCF và vội
vàng tách bến, tàu tôi tiến đến chiêc HQ
504 đang cặp bến quân sự Mỹ , lính thủy
thủ trên tàu ra dấu cho tôi không đươc
tiến sát vào , với nhửng họng súng M16
chỉa về phia tôi, trên bong 504, tôi
lặng người nhận ra bà thiếm họ và gia
đ́nh di tàn từ ĐN trên bong tàu, họ la
lớn cho tôi nghe…đói quá…đói quá…nhưng
tôi làm sao giúp ǵ trong lúc tôi bi bắt
buôt phải rời ngay, môt chị đang có bầu
có lẻ củng gần tới ngày nằm cử đang
đứng gần chân cầu ra dấu cho tôi môt
cách tuyệt vọng, tôi cố gắng đưa mủi tàu
từ từ tiến vào cầu tàu, hàng trăm người
chạy ào đến… tôi lại vội vả lui ra, cho
đến giờ phút này cho đến bây giờ khi
nghỉ lại cảnh trạng ấy, tôi vẩn cảm thấy
ân hận là không đưa được chị có bầu ra
tàu.
Tôi cho tàu cặp bến HQ thuôc BTL/V2ZH ,
đám SQ/HĐ1 c̣n khoảng trên dưới 20 mạng,
thủy thủ trên các chiến đỉnh chằng c̣n
là bao, phần lớn là gốc từ miền Nam đổi
ra Trung, ngoài ra gia đ́nh và con cái
nheo nhóc trên chiến đỉnh là của họ, c̣n
phần lớn sỉ quan và binh sỉ cơ hửu gốc
miền Trung, nhiều nhất là Huế không c̣n
được bao nhiêu, v́ gia đ́nh bi kẹt nên
không c̣n muốn vào Nam.
Tôi nghe đám SQ đang đứng long ngóng
trên cầu Cam Ranh nói rằng CHT muốn tất
cả gia đ́nh binh sỉ rời tàu lên bờ, trên
khu gia binh có đầy đủ gạo cơm, nước
ngot, c̣n binh sỉ đi công tác hành
quân???tiếp, các bạn SQ lai nói rằng ông
CHT báo cáo với Tư Linh Vùng 2 là ông ta
đưa đoàn tàu vùng 1 về Cam Ranh an toàn??
Bố khỉ, mạnh ai nấy lo, mạnh tàu nào là
cứ tùy mổi thuyền trưởng định liệu,
không lệnh lạc, có đem tàu về tới Cam
Ranh là do mổi quyết định trên tàu đó mà
thôi, lính cơ hửu không đầy đủ trên tàu,
thậm chí không ai biết ai lúc đó.
Chúng tôi có linh tâp họp trên cầu tàu,
tất cả SQ HĐ1 có măt tai Cam Ranh luc
bây giờ, ông CHT đứng trên đài chi huy
môt chiếc coastguard do Tr/Úy Lực làm
thuyền trưởng, ông dỏng dac ra linh cho
chúng tôi phài đưa gia đ́nh lên bờ, t́nh
h́nh căng thẳng, ông ra lịnh cho Tr/Úy
Lưc” anh đưa tât cả gia đ́nh anh lên bờ
ngay..da!…da!” anh em nao núng có thề
hành xử theo lời ông ta, tôi vôi vàng đi
ṿng hang quân nói với họ rằng ..
đưa gia đ́nh các anh lên bờ là chết cả
lủ, gia đ́nh, con cái, … sẻ ket lai..Tr/Uy
Nguyển Thai Nhiên phụ họa với tôi, Lac.
Đ M đ…sợ.tôi tiêp tuc rỉ tai anh em là
nhất quyết không tuân linh..
Ông CHT đứng trên bcao gằng giọng..”Tr/Uy
Lac sách động, tôi sẻ đưa anh ra ṭa án
quân sư mặt trân…các anh không tuân lịnh
tôi sè nhờ quân cảnh giải quyêt…”sau đó
có vài quân cảnh thơ thẩn xuống cầu
tàu..đến đây, chúng tôi tư động tan hàng,
leo lên các chiến đỉnh và rút ra khỏi
cầu và neo gần xung quanh.
Tôi đưa tàu ra vịnh Cam ranh và tính
tóan trong đầu là làm sao đưa tât cả
người trên tàu về Vủng Tàu, do đó, mổi
khi tôi thấy môt chiếc hàng hải thương
thuyền nào trực mủi hướng Sài G̣n là tôi
cho PCF chạy doc theo để thăm hỏi,
chiếc nào củng đầy người, dân quân lẩn
lộn, có lẻ họ di tàn về miền nam. Bổng
dưng một giọng nói trên môt thương
thuyền vọng xuống…bác ơi, tàu này về
Saig̣n…chợt nhận ra là ngưởi cháu gia
đ́nh bà xả, tôi nhanh nhẹn cho quăng dây
mủi PCF côt bên hông chiếc hàng hải, hai
chiếc liền cẳp kè với nhau, tôi cho
người trên tàu lên , chỉ c̣n hai nhân
viên cơ hửu không muồn về SaiG̣n, tôi
căn dăn với hai anh là ráng vào cầu Đá
Cam Ranh đón ông Tr/Úy Lâu ngày mai, và
tôi theo chiếc hàng hải Thương thuyền kể
từ giờ phút đó.
Tôi đang ngồi tr6n bong tàu hàng hải
th́nh ĺnh năm người lính BĐQ biên
pḥng ôm chăt lấy tôi , văng tuc và tước
khẩu súng colt tôi dắt sau lưng, có lẻ
cái áo quân nhân xẽ giữa đă làm cho họ
trông thấy khẩu súng của tôi..anh em BĐQ
c̣n gán ghép tôi là VC trà trộn lên
tàu..trong lúc đó môt người từ trong
pḥng lái tiến đến và kêu tên tôi, tôi
nhận ra đó là một cựu Đ/Úy hàng hải
thương thuyền cùng với đơn vi CCYT/TV/AnThới
năm nào, ông hiện là thuyền phó chiêc
hàng hải này, ông ta đưa tôi và bà xả
vào pḥng riêng và nói, ở lại đây không
thôi tụi nó giết mày, tât cả súng đạn
khi lên tàu đều bị tước hết để bảo vệ an
ninh cho tàu.
VỦNG TÀU-CÁT LỞ
Tôi đưa tất cả gia đ́nh tá túc trong môt
ngôi chùa gần bải sau Vủng Tàu, cả hai
gia đ́nh tôi tạm ổn trong ngôi chùa này,
sau đó tôi nghỉ rằng với t́nh thế hổn
loạn tai Vủng Tàu tôi nên vào Vùng 3
Zuyên Hải để thăm ḍ t́nh h́nh, tai đây,
tôi đă găp một số lính và SQ thuôc HĐ1
đă không ghé CamRanh mà đi thẳng đến
Cat Lở, và ngày hôm sau các chiến đỉnh
từ CamRanh cũng về tới Cát lở, và tại
đây HQ Trung Tá Châu Văn thay thế Tr/Tá
Nguyển Manh Trí làm CHT/HĐ1. Tôi được
CHT mới cắt cử làm Sỉ Quan đặc trách về
tị nạn và ẩm thực, ngoài ra tôi có môt
phụ tá là Tr/úy Tài . Sau này tôi nghe
nói Tài, Bổn và Dự là ba sỉ quan Hải
Độii nhưng là nội gián.
Tại đây, tôi găp Tr/Úy Trần Ngoc On, hắn
biết tôi từ Trung vào không c̣n môt cắc
trong túi, hắn dúi vào tay tôi mười lăm
ngàn để xài tạm. Hai ngày sau tôi nghe
môt PCF chở On khẩn câp về binh viên
Grall v́ bị đạn lạc vào lưng tại Vủng
Tàu, củng nhăc lại On là môt cậu ấm Mỷ
Tho, nhà giàu có tiếng, gia đ́nh On mua
một rạp chiếu phim lớn nhất tai Vủng Tàu
thởi bấy giờ, nếu On không có tiền trong
giai đoạn dầu sôi lửa bỏng đó, th́ On
không qua khỏi khi bị thương trong tháng
Tư đó.
T́nh h́nh ngay tại Bộ Tư Lịnh /V3 củng
không sáng sủa cho mấy, ngoài cổng, dân
chúng đông nghẹt, có lẻ họ nghỉ rằng,
chỉ có HQ là có phương tiện đi mọi nơi
an toàn, tôi củng chẳng biết là đi đâu.
Môt buổi sáng, tôi lấy xe chở bà xả trưc
chỉ Sài G̣n, khi đến vườn tiêu gần Đại
Ṭng Lâm, cả đ̣an xe bi kẹt, VC đắp mô
đàng trước, tôi biết mật khu Hắc Dịch
gần đó, tôi quay trở về lại Cát Lở, tôi
đươc Tr/Tá Tô Văn nói với tôi…”Lac!!!c̣n
chần chờ ǵ nửa, lấy môt chiếc tàu đi,
tàu th́ nhiều mà thuyền trưởng lại
thiếu..có ǵ th́ rút qua bên kia bờ song
cho an toàn..”
Tôi tập hợp đươc 5 người lính tại Cát Lở
trong đó ch́ có Tr/Si Văn Hưng là nhân
viên trên tàu với tôi ờ HĐ1, c̣n bao
nhiêu là lính HQ tai V3 tôi không hề
biết họ. Văn Hưng cho tôi biết t́nh
trạng dầu mở, nước ngot và lương thưc
khá an toàn, tuy nhiên để cho chắc ăn,
tôi dùng súng M16 bắn ch́a khóa connect
để lấy thêm gạo, ch́a khóa SQ phu tá Tài
đă đem đi và có lẻ ket tai SaiGon. Sau
tiếng nồ Tr/Ta Nguyển Minh Thơ là CHT/CCYT/TV/CatLở
tước súng tôi, sau đó ông cho tôi lại và
ông ta nói không nên làm náo đông trong
lúc này, tôi cám ơn ông và tàu tôi tách
bến…tôi vần c̣n liên lạc đươc với Hải
Đôi 1 tren tầng số truyền tin, Tr/uy
Phạm Hoàn găp tôi trên biển, Hoàn nói…về
SaiG̣n, treo cờ trắng …tôi biêt cả gia
đ́nh Hoàn ket lai Đà Nẳng…tôi trả lời
rằng, nghe nói tụi nó rút về miền Tây,
tao không lên SaiGon…
Buổi chiều , tôi đưa tàu vào lại Cat Lở,
và trời băt đầu tối..môt thượng sỉ HQ /CatLở
năn nỉ với tôi rằng, gia đ́nh có hẹn ông
ta tại môt bến cá gần đó, khi có dấu
hiệu đèn pin, xin cho vào rước gia đ́nh
ông ta, tôi nói với ông ta, con sông này
tôi không rành..
ông ta cam đoan với tôi là không sao cả…tôi
nghe lời ông ta từ từ cho mủi tàu hướng
vào bờ…bổng dưng con tàu khựng lại và
nghiêng môt bên..tôi la lớn…mắc cạn rồi…tôi
thực sự mất b́nh t́nh và văng tuc, giong
tôi có lẻ làm cho anh em trên tàu hoảng
sợ, hai anh lính nhảy xuống bải cát kê
vai đẩy tàu…họ củng mất tinh thần nên
rối loạn, tàu nằm nghiêng hẳn trên
cát..vô vọng..
Đêm tối đen, tôi thấy vài ánh đèn le lói
đàng sau, tôi chợt lóe lên ư nghỉ là kêu
nhửng chiếc ghe dân này cột xung quanh,
và may ra đường cùng là nhờ họ đưa ra
khơi t́m tàu bạn..tôi bảo Văn Hưng kêu
họ lại và hứa hen là sáng mai nếu các
ông cho tôi ra biển, tôi cho các ông lên
tàu lớn..ho lại nói rành rẻ hơn tôi là
cho họ đi Mỷ…thât sự tôi có biết đi đâu
là đâu…tôi hứa đại là tôi hứa cho hết
gia đ́nh các ông đi Mỷ..và họ lai nói
rằng khuya nước lên, các ông sẻ ra được.
Đang nằm trên tàu, tôi nghe tiếng lách
cách…quả thật nước dâng lên và đưa tàu
ra khỏi chổ cát, nhưng sau đó, một chân
vit bi rung v́ cong. Tôi thực hiền lời
hứa là cho các người dân đánh cá “đi Mỷ”
tôi nói các ông neo ghe lại, leo lên tàu
tôi, tôi đưa ra tàu lớn đi Mỷ..hai chiêc
ghe là tài sàn ,heo, gà, đồ đac trên đó,
ho không chiu buông ghe và từ giă tôi .
Trên đường ra lại vịnh Vủng Tàu, tôi bắt
găp soái hạm Coastguard 710 của HĐ1,
trên soái hạm tôi thấy có Tr/Ta Nguyễn
Manh Trí, Tr/Tá Tô Văn, Tướng Phan Ḥa
Hiệp trưởng phái đoàn Quân sự hai bên,
môt số sỉ quan bộ binh câp Đai Tá , vài
Trung Úy HQ trên soái hạm, tôi nghỉ
trong đầu là theo đuôi chiếc này là ăn
chắc, v́ tôi không biết rỏ t́nh h́nh lúc
bấy giờ…trên tàu có nhiều sỉ quan cao
cấp, có lẻ họ biết tin tức nhiều, tôi
nghỉ như vậy. Mặc dù tàu tôi chỉ c̣n
một gị nên vận chuyển rất khó khăn,
nhưng tôi vẩn cố gắng bám sát sau đuôi
soái hạm như h́nh với bóng.
Soái hạm cập cầu trước mặt Trung Tâm
Huấn Luyện Cảnh Sát Rạch Dừa, tôi cập
cầu đàng sau soái hạm cách khoảng năm
mét, và tôi ra lịnh tắt máy tàu với ư
nghỉ là dành nhiên liệu… bổng có nhiều
tiếng súng nổ vang trên quốc lộ và hàng
loạt người, quân cũng như dân trực chỉ
chạy xuống bến môt cách vội vả…tôi khởi
động máy để tách bến, nhưng máy không nổ,
tôi chụp lấy khẩu M16 nhảy ra trước mủi
PCF đồng thời tôi ra lịnh cho Trung Sỉ
Văn Hưng, lính cơ hửu của tôi leo lên
dàn đai liên 50 sẳn sàng nhả đạn nếu
soái hạm không kéo, tôi thấy các SQ bên
soái hạm chạy vội vào trong buồng tàu và
môt người ra lịnh cho môt vị Trung Úy HQ
chạy ra buông giây, tôi hét lên và đưa
súng chỉa và áp đảo vị Tr/Úy rằng”
quăng giây qua nhanh lên”..vị SQ chạy
vội vô tàu, rồi tức tốc chay ra quăng
giây qua tàu tôi, và người lính trên tàu
tôi côt chặc vào mủi, và hai tàu vôi
vàng tách bến.
Tôi cảm thấy an tâm là kể từ giờ phút
này, tôi không c̣n lái môt chiếc tàu chỉ
c̣n môt chân vit rất khó khăn, và thêm
nữa, soái hạm có tân chỉ huy trưởng Tô
Văn trên đó.
Trung Tá Tô Văn lên máy truyền tin 46
và bảo tôi bẻ cổ, danh từ chúng tôi
thường dùng khi muốn nói chuyện riêng
trên tần số, vă lại tần số hiện hửu rất
ồn ào. Tô Văn nói” anh Lạc, tôi là CHT
của anh, bây giờ tôi sẻ đưa tàu anh ra
một ponton trên vịnh, và để cho anh côt
tàu ờ đó, c̣n tôi phải đi rước thêm môt
số cấp Đai Tá bộ binh đang ket trong bờ…”trong
đầu tôi chợt nghỉ, tàu bi hư mà côt ở
môt chổ trên biển th́ củng chết…tôi trả
lời rằng “dạ, comandant cho con cá nào
căp kè với tôi trước, rồi tôi sẻ buông
giây, trong lúc đó tôi thấy có chiếc
coastguard 709 do Trung Úy Trần Châu gần
đó, tôi nói với CHT là xin cho 709 cặp
với tôi…và trong chốc lác Trần Châu lên
máy..”Lima..
đây Charlie đây, tao sẻ căp kè mày ngay
bây giờ, và tôi buông soái ham kể từ
giờ phút đó. Chúng tôi tức tốc tháo gở
đạn dược và di chuyển tất cả quân dụng
và sung ống lên tàu 709 và bỏ lại tàu
không trên biễn. Sau đó tất cả mọi người
đều được đưa lên HQ 802.
Trên 35 năm qua, những h́nh ảnh tang
thương , đau buồn của đất nước trong
những ngày di tản buồn vẩn in đậm nét
trong kư ức mổi người trong chúng ta,
cuộc chia tay ra đi nào cũng tràn đầy
nước mắt, nhưng cuộc ra đi khỏi quê
hương, nơi chôn nhau cắt rốn biết bao
nhiêu kỷ niệm là điều đáng nói hơn cả,
và nổi niềm vong quốc có lẻ không bao
giờ quên.
Kiến Lửa Lạc
Hồi Kư Về Những Giờ Phút Chót Tại Bộ
Tư Lệnh Hải Quân VNCH
Tư Lệnh HQ, Đáp Ứng T́nh H́nh Di Tản
Lễ nhậm chức của tân Tư Lệnh Hải Quân
diễn ra vào trưa ngày 24 tháng 3-75 có
khoảng 7 Tư Lệnh các vùng đứng 1 hàng
ngang trước bàn tư lệnh chứng kiến và
một sĩ quan báo chí hiện diện để quan
sát và tường thuật, trong văn pḥng Tư
Lệnh nhỏ nhắn trên lầu hai nằm bên tay
mặt của trụ sở Bộ Tư Lệnh trông ra bến
Chương Dương.
Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang lúc đó đang là
Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, một trong vài
“chỗ ngồi” sáng giá nhất chung quanh
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông được
đổi về gấp nhậm chức Tư Lệnh Hải Quân
lần thứ nh́ sau khi đă rời Hải Quân trên
10 năm về trước. Điều này cho thấy kế
hoạch “di tản và lui binh” là mối quan
tâm nhất của Tổng Thống Thiệu trong việc
bổ nhậm chức vụ này. Ông Cang thổ lộ
rằng nếu c̣n ở vị trí Tư Lệnh Biệt Khu
Thủ Đô trực thuộc Bộ TTM, th́ ông sẽ ở
lại Sài G̣n tử thủ.
Hồi đảo chính tháng 11 năm 1963, lần đầu
ông Cang được giao nắm chức vụ Tư Lệnh
Hải Quân cũng là v́ được ḷng tin cậy
của nhóm tướng lănh đối với ông. Và lần
đầu ông làm tư lệnh kéo dài khoảng 16
tháng. C̣n lần thứ nh́ này với cấp bậc
cao hơn và giao tiếp khẩn cấp rộng lớn
hơn hẳn trước nhưng ông cũng chỉ ở lại
chức vụ khoảng trên một tháng, với một
kế hoạch di tản Quân Lực VNCH và các
công nhân viên chức chánh phủ khi có
nguy biến, để về Miền Tây, tập trung tại
Côn Sơn hoặc đi tị nạn.
Lễ Bàn Giao căng thẳng đó gồm cả những
người đă có bất hoà trước đây với cá
nhân tân Tư Lệnh cũng hiện diện như: Phó
Đề Đốc Nghiêm Văn Phú, Phó Đề Đốc Đặng
Cao Thăng.
Chỉ vài ngày sau ngày nhậm chức ông đă
thành lập đơn vị Lực Lượng Đặc Nhiệm 99
bao gồm những Giang Đoàn Ngăn Chặn và
nhiều Căn Cứ Hải Quân do Đại Tá Lê Hữu
Dơng là tư lệnh, với sự đóng góp đáng kể
của Phó Đề Đốc Phú.
Tân Tư Lệnh Chung Tấn Cang lúc đó có cấp
bậc cao nhất quân chủng, và ngang cấp
với các tư lệnh quân binh chủng khác, dễ
dàng nói chuyện với Dinh Độc Lập và Tổng
Tham Mưu. Trong những ngày giờ dầu sôi
lửa bỏng đó, quả ông đă quan tâm thực sự
đến kế hoạch “Di Tản” một cách chặt chẽ,
với tiêu chuẩn phải mang đi được nhiều
tướng lănh, quân nhân của các quân binh
chủng khác và Hải Quân, dĩ nhiên.
Và ông thường xuyên có mặt trong Trung
Tâm Hành Quân thuộc Bộ Tư Lệnh Hành Quân
Lưu Động Biển, trong tầng Ba một cao ốc
tân kỳ mới xây vài năm. Ông ngồi bề thế
chỉ huy oai nghiêm như một Tổng Tham Mưu
Trưởng chiến trường Lục Quân. Phó Đô Đốc
Cang liên lạc hàng ngang với Tổng Thống
và giới chức cao cấp nhất của Tổng Tham
Mưu, cũng như bên Biệt Khu Thủ Đô.
BTL/HQ Và Cuộc Di Tản QK 1 & Tướng
Trưởng
Tư Lệnh Chung Tấn Cang theo dơi giải
quyết cuộc di tản và t́nh h́nh trận liệt
ngoài Quân Khu 1, và Đà Nẵng.
Ông biết từng bước đi của Tướng Bộ Binh,
Tướng Không Quân và các đơn vị tác chiến
với những khi tạm trú trong căn cứ HQ Đà
Nẵng hoặc TTHQSĐ/TQLC. Sĩ Quan Báo Chí
của Hải Quân lúc đó cũng được chỉ định
ngồi không xa những hải bàn chỉ huy của
vị tướng Hải Quân ba sao này.
Tướng Trưởng, Tướng Lân, Tướng Khánh,
Phó Đề Đốc Thoại… thường xuyên họp tham
mưu tại TTHQ/ Sư Đoàn TQLC hiện đóng tại
Non Nước (Đà Nẵng),
Trong khoảng thời gian này hai sĩ quan
của BTL Sư Đoàn TQLC vừa trúng pháo của
VC khi đang trên mặt nước để lên chiến
hạm, đó là Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc và
Trung Tá Đỗ Hữu Tùng, theo như lời thổ
lộ của Trung Tâm Trưởng TTHQ/SĐ/TQLC
Trần Vệ và sĩ quan TQLC, Tô Văn Cấp. Vào
phút chót Trung Tướng Trưởng đành bó
tay, đă rời bỏ Quân Khu I… Nếp đạo đức,
khôn ngoan và thói quen chịu đựng đau
đớn cho thấy ông tướng danh tiếng này,
vượt thắng hơn sự tính toán của TT
Thiệu… Theo lời một sĩ quan Thủy Quân
Lục Chiến cho biết, Tướng Trưởng ngồi lẻ
loi trên ghế bố cùng với Đại Tá TLP/TQLC
Nguyễn Thành Trí và độc nhất một anh
lính truyền tin Bộ Binh, chờ ôm poncho
lội nước để lên Hải Vận Hạm 404 vào lúc
10 giờ sáng ngày 29-3, thay v́ tin theo
lời hứa hẹn của Sài G̣n là: “Cứ ở yên
trong đó không lội ra khơi chờ đến khi
HQ 404 vô đón”. Và ông đă phải chọn một
bộ quân phục vải xám của Hải Quân để mặc
trong suốt thời gian tạm trú trên tầu.
Dù theo dơi chặt chẽ, nhưng thực ra
Trung Tâm Hành Quân HQ ở Sài G̣n không
nắm vững được phương vị di chuyển của Tư
Lệnh Quân Đoàn 1, Tướng Ngô Quang
Trưởng: Khi ông ra tới Chiến Hạm, th́
Tướng Hồ Văn Kỳ Thoại vẫn c̣n đang thất
lạc ở bờ biển chờ tiểu đỉnh vào đón. Và
trước đó, một vài viên chức người ngoại
quốc đă được sắp xếp lên HQ-5 rồi. .
Em trai của Phó Đề Đốc Thoại là Hồ Văn
Kỳ Tường, Hạm Phó HQ-5, đă cầm tận tay
công điện Mật của chính Tổng Thống giao
cho Tướng Trưởng và nói: “Tổng Thống
muốn Trung Tướng theo tiểu đỉnh trở lại
đất liền để tiếp tục chỉ huy”. Sau khi
đọc công điện một lúc khá lâu, Tướng
Trưởng đă xin với Sài G̣n để được cùng
với TQLC “tiếp tục chỉ huy trên Bộ Tư
Lệnh Nổi tại Hải Vận Hạm HQ 404”….(Thực
ra không ai rơ ngày giờ ấy: Tướng Trưởng
đang ở chiến hạm nào?)
Trung Ương sau một khoảng thời gian chờ
đợi, đồng ư cho Tướng Trưởng được theo
chiến hạm xuôi về Nha Trang, Phan Rang
về đến Sài G̣n. Buổi chiều cùng ngày,
tin từ Đà Nẵng gọi về cho Tư Lệnh Chung
Tấn Cang biết một oanh tạc cơ không rơ
của Không Quân VN hay Hoa Kỳ đă bắn lầm
một Hải Vận Hạm, có lẽ là Hộ Tống Hạm
lọai 400, gây cho khoảng 4 sĩ quan cùng
với nhân viên, thủy thủ trúng thương và
tử nạn.
Một sĩ quan trẻ được báo cáo tử nạn là
HQ Trung Úy Chiến Binh Nguyễn Độ, cũng
là người bạn cùng đơn vị của tôi trong
Hải Quân vài năm trước. Tin buồn này cứ
ám ảnh trong ḷng tôi như không bao giờ
nguôi quên.
Không đầy một tuần sau, khi chiến hạm có
Tướng Trưởng về đến cầu tầu Tư Lệnh HQ,
Pḥng Báo Chí cũng theo ra đón Tướng
Trưởng, chứng kiến tận mắt cảnh tượng
Tướng Chức thay mặt Tổng Thống Thiệu tỏ
rơ sự bất b́nh. Có tin là Tướng Trưởng
bị quản thúc cùng với một số tướng khác
qua lệnh của Tướng Trần Văn Đôn.
Tuyến Thép Phan Rang Và Phó Đề Đốc Minh
Chỉ vài ngày sau khi Đà Nẵng thất thủ,
Bộ Tư Lệnh Hải Quân đă muốn Pḥng Báo
Chí chuẩn bị các bài diễn văn soạn sẵn
của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại
Tướng Viên và Tư Lệnh Hải Quân nhằm nêu
cao vai tṛ “Tư Lệnh Tuyến Thép” và một
Sĩ Quan Báo Chí theo ra Nha Trang giao
trực tiếp để trao tận tay và đề cao
chiến dịch mới: “Tuyến pḥng Thủ cuối
cùng dự định tại Nha Trang, mang tên
Tuyến Thép, do PĐĐ Hoàng Cơ Minh là Tư
Lệnh Chiến Trường- là vinh dự cho HQVN”,
nhưng lễ nghi quân cách và lệnh chưa kịp
chính thức loan tải và phát thanh th́
lănh thổ kiểm soát của VNCH đă phải cắt
thêm về tới Tuyến Thép Phan Rang. Rồi
cũng từ Phan Rang, chưa kịp thực hiện
những nghi lễ trang trọng bảo vệ Tuyến
Thép th́ Tư Lệnh, lẫn sĩ quan báo chí đă
phải theo Chiến Hạm chạy dọc theo bờ
duyên hải để đón người di tản từ Phan
Rang và các thành phố khác nữa xuôi Nam.
Tôi, sĩ quan Báo Chí HQ, có dịp rút lui
khỏi Nha Trang, đi chung Chiến Hạm với
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, cùng gặp gỡ
trong pḥng ăn Sĩ Quan Chiến Hạm cùng
những lúc chen chân giữa quân nhân tác
chiến, và heo gà trên chiến hạm kêu oang
oác, ồn ào.
Đây là dịp tôi có giờ tṛ chuyện riêng
tư với Tướng Minh. Chúng tôi kể lại thời
ăn cơm chung giữa chúng tôi với nhà văn
HQ Chu Sĩ Lương, Sĩ Quan Tùy Viên HQ, Lê
Rĩnh; HQ Trung Tá Lê Công B́nh; Thiếu Tá
Phi Đoàn Trưởng Thần Trùy 211; Nguyễn
Kim Hườn, với Thiếu Úy KQ Trần Thuỵ Chi
thường chở ông trên trực thăng, những
ngày tôi được quan sát cuộc hành quân
Thủy Bộ, ông tiếc cho buổi triển lăm
tranh ở Hội Việt -Mỹ khai mạc đầu tháng
Tư sẽ không có nhân vật chính là tôi về
kịp tham dự… Chúng tôi ngậm ngùi chung
những mất mát… Và chúng tôi lênh đênh
như thế trên biển hơn 3 ngày, chen lẫn
trong số hàng ngàn chiến binh tướng tá
di tản, trên cả 3 soái hạm, HQ 2, HQ 3,
HQ 5 và bao gồm cả Dương Vận Hạm HQ 500
Hải Quân Họp Tiết Lộ Chi Tiết: Di Tản
Bộ Tư Lệnh Hải Quân và Đại Tá Nguyễn
Xuân Sơn, Tư Lệnh Hạm Đội đă họp với
khoảng 100 hạm trưởng các loại chiến hạm
lớn nhỏ vào chiều ngày 26 tháng 4, ông
Sơn tuyên bố rằng lấy quyền- Tư Lệnh Hạm
Đội thông báo đến quư vị hạm trưởng rơ 3
chuyện:
“Vũng Tầu, Phan Rang và Bộ Tổng Tham Mưu
đă tan ră, địa điểm Sư Đoàn 3 Không Quân
đang bị dội bom, trong khi Hạm Đội HQ
c̣n an toàn và nguyên vẹn, chúng ta
chuẩn bị tinh thần có thể di chuyển về
Phú Quốc.”
Chỉ vài ngày sau hôm 28-4 Đại Tá Sơn bị
“cách chức”, người thay thế là Đại Tá
Khuê. Ông Khuê tuyên bố trong buổi họp
đầu tiên để trấn an và đánh lạc hướng:
“Di tản không đặt ra nữa v́ Hoa Kỳ đă
giúp ta thả bom CBU ở Xuân Lộc, ta sẽ
thắng…”
Vào sáng sớm ngày 29-4 lại có một cuộc
họp tham mưu cao cấp cho biết: “nếu
không có một phản lệnh nào khác, th́
toàn bộ Hạm Đội sẽ rời Bộ Tư Lệnh Sài
G̣n vào lúc “Không Giờ”- Khuya 29 rạng
30, các hạm trưởng cứ thế mà tuân hành.”
Trong khi đó th́ Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh
Châu khi bỏ Bộ Tư Lệnh Vùng về Sài G̣n,
ông thường xuyên có mặt tại Căn Cứ Hải
Quân Cát Lái, cùng với toán Quân Cảnh và
toán nhân viên làm một nút chặn ngay tại
ngoài tuyến đường lộ gần căn cứ, nơi
được đặt là trại tị nạn cho quân nhân và
đồng bào về từ Phú Quốc. Trong lúc đó HQ
Đại Tá Trần Văn Triết điều khiển kiểm
soát ṿng đai Hải Quân Sài G̣n.
Vào lúc 5 giờ 30 chiều 29-4-75, cơn mưa
chiều vừa tạnh, khi Hạm Trưởng Đinh Mạnh
Hùng của HQ 2 mang tên Trần Quang Khải,
chuẩn bị xuống chiến hạm, chuẩn bị công
tác chiến dịch “Di Tản-Lui Binh”, Sĩ
Quan BTL Ưng Văn Đức (một Trung Tá và
một Thiếu Tá) thi hành lệnh của Đại Tá
Triết đă đến ngăn cản không cho hạm
trưởng và nhân viên được xuống tầu di
chuyển nếu không do chính ông cho phép.
Hạm Trưởng Đinh Mạnh Hùng đă bị cản
không được xuống tầu, đă phải dùng máy
liên lạc cho một tiểu đỉnh đón ông trước
nhà hàng Majestic, và lên tầu phía tả
hạm, bằng thang dây.
Tổng Thống Dương Văn Minh Đồng Ư Cho Di
Tản Về Miền Tây
Cũng khoảng 4 giờ chiều hôm ấy, trong
cơn mưa nhỏ và mây xám, Phó Đề Đốc
Nguyễn Hữu Chí, Tư Lệnh Hành Quân Lưu
Động Biển đă cùng với gia đ́nh Phó Đề
Đốc Hoàng Cơ Minh xuống HQ 3. Trong khi
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh đứng trên một
chiếc PCF, đậu ngay cầu tầu Tư Lệnh để
dàn xếp mọi diễn biến. Lệnh chiến hạm
“Nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Và cho
đến chiều tối mới chuyển qua HQ 5, chiến
hạm này được chọn làm soái hạm chỉ huy
cùng với Tư Lệnh Chung Tấn Cang.
Đô Đốc Cang muốn bảo toàn đơn vị đến giờ
chót hoặc lên đường ra Phú Quốc hoặc
Miền Tây. Những điều này khi tŕnh bày
với TT Dương Văn Minh đều được Tổng
Thống gật đầu và không phản đối điều ǵ.
Chủ trương của ông Cang cùng với các vị
tướng tham mưu là không chấp nhận liên
hiệp. Xung quanh ông là những tướng lănh
chủ trương chống Cộng, chống Liên Hiệp
với CS… như Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh,
Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Phó Đề Đốc
Đặng Cao Thăng, Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu
Chí.. Và Phó Đề Đốc Nghiêm Văn Phú, là
một sĩ quan chỉ huy mà trước đây từng có
những bất ḥa riêng với Tư Lệnh, nhưng
chính cuộc chiến đấu và di tản cuối cùng
gay go này đă đưa những người có những
bất đồng ngồi lại gần nhau.. cùng hữu
hiệu làm việc.
Họ thường xuyên liên lạc với Đại Tướng
Minh, Đại Tướng Minh đă bày tỏ rơ ư muốn
ở lại của riêng ông, và mệt mỏi đồng ư
cho các đơn vị quân đội và HQ được quyền
tự giải quyết hoặc đưa quân nhân các cấp
“di tản… lui binh”, sau khi ông cảm thấy
đă tuyệt vọng và bị lừa.
Phó Đề Đốc Chí, tức nhà thơ Hữu Phương
lại là vị tướng độc nhất trong BTL HQ
(?) muốn phá hủy cơ sở Trung Tâm Hành
Quân để bảo mật. Trong lúc rời nhiệm sở,
ông nói ra ư định muốn dùng lựu đạn lân
tinh để tiêu hủy hồ sơ theo mục đích bảo
vệ những người c̣n kẹt lại và ngăn chặn
khi VC tới. PĐĐ Chí sau đó xuống chiến
hạm bằng tiểu đỉnh và lên bằng thang dây
v́ cầu tầu đă bị kiểm soát nghiêm nhặt.
Các pḥng sở khác êm ắng như nhà hoang
cửa trống, ai cũng túa ra về v́ tất cả
họ tâm trạng đều rối bời, không ai tiếc
nuối ǵ hoặc có một hành động ǵ khác,
ngoài nhóm người thân cận với tân Tổng
Thống Dương Văn Minh th́ vẫn cố vớt vát
t́m giải pháp… chiến đấu (?)… Có lẽ v́
vậy vài sĩ quan Hải Quân giờ chót chưa
đi, gốc Miền Nam, thân cận với ông Dương
Văn Minh khi ở lại, vừa bị trên 16 năm
tù “cải tạo” vừa bị mang tiếng là đặc
công nằm vùng! như Đại Tá Nguyễn Văn
Tấn, được khẩu lệnh của TTMinh hành xử
quyền Tư Lệnh Hải Quân, Trung Tá Lê Như
Linh, Trưởng Pḥng Tâm Lư Chiến Bộ Tư
Lệnh HQ, Thiếu Tá Trần Bá Hạnh, Phó
Trưởng Pḥng TLC.
Suốt bao nhiêu năm trong Hải Quân tôi
chỉ biết có một Trung Sĩ Tâm Lư Chiến,
Huỳnh Thanh Vân, cũng là tài tử điện
ảnh, là cán bộ nằm vùng sau 1975 đă trở
thành thủ trưởng pḥng Tài Chánh và Ngân
Hàng Quận Tân B́nh. C̣n những tiếng đồn
khác như nhà văn Chu Sĩ Lương và những
người khác ở lại, hoặc không đi được gọi
họ là “nằm vùng” th́ tôi không tin.
Phó Đô Đốc Cang, theo sát an ninh vào
những giờ cuối cùng. Ông liên lạc với
TTM, cũng như Đại Tá TQLC Cổ Tấn Tinh
Châu, chỉ huy trưởng Đặc Khu Rừng Sát và
Thủy Tŕnh sông Ḷng Tảo, Vàm Cỏ – Soài
Rạp… để giữ an ninh cho đoàn chiến hạm
có khả năng di chuyển trên sông Sài G̣n
trong ṿng vài giờ ra khơi, cùng hướng
về điểm hẹn đặt dưới quyền chỉ huy toàn
diện của chính ông, không trở thành mục
tiêu của VC sẽ trải dài hai bên bờ sông.
Ông Cang là vị tướng đă thu gọn quân
nhân dưới quyền tập hợp di tản nhẹ nhàng
nhất mà chắc rằng không ai có khả năng
điều động rộng lớn và khó khăn được như
thế.
Nếu không có lệnh đầu hàng, và nếu không
có lệnh khác th́ một khối lượng lớn
tướng lănh, sĩ quan, quân nhân các quân
binh chủng và Hải Quân đă có mặt tại
Miền Tây (?), như chính lời ông Cang cho
biết như vậy.
Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 cũng là con đẻ
của ông, một tổ chức cần thiết để giữ an
ninh giờ chót cho Sài G̣n. Có lẽ chính
v́ thế mà nhiều người c̣n rời Sài G̣n
được trong ngày 30-4, như cụ thể trường
hợp nhà thơ Nhất Tuấn, và nhiều người
khác c̣n cơ hội lên được Quân Vận Đỉnh
9604 ra khỏi sông Sài G̣n từ Nhà Bè hoặc
Tướng Trung và Tướng Vĩnh Lộc rời Sài
G̣n trong khoảng 4 giờ trên sông mà
không bị VC bắn từ hai bên bờ sông.
Tới trưa 30-4, những vụ hôi của dọc kho
Trịnh Minh Thế và Khánh Hội gây ra những
vụ nổ súng và khói lửa trong khi VC vẫn
chưa xuất hiện dọc đường như nhiều người
lo âu.
Hải Quân Ra Khơi
Tư Lệnh HQ Chung Tấn Cang đă không ra đi
bằng phương tiện hàng không. Mặc dù cũng
giống như Phó Đề Đốc Chí, Đề Đốc Chơn,
Đại Tá Tấn –Khối An Ninh HQ đều được cơ
quan DAO dành chỗ sẵn để họï lên máy
bay.
Trước đó một ngày, Đề Đốc hồi hưu Trần
Văn Chơn ra Vũng Tầu đón cha mẹ về cùng
đi, chờ lên máy bay của Quân Đội HK,
nhưng cuối cùng ông đă quyết định ở lại.
Con trai, là hạm trưởng HQ 601, HQ Đại
Úy Trần Minh Chánh, cũng từ chối cùng di
tản trong chiều tối 29/4.
Trong cơn mưa chiều 29, vài tướng lănh
bị “tạm giam” trong khu vực BTL Hải Quân
như: Trung Tướng Lâm Quang Thi, Lâm
Quang Thơ, Nguyễn Bảo Trị, Nguyễn Đức
Thắng, Phạm Quốc Thuần, Chuẩn Tướng KQ
Nguyễn Đức Khánh… được Hải Quân nhanh
chóng mời đón lên chiến hạm HQ. 2 cùng
di tản chiến đấu.
Phó Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh vừa rời chức
vụ Tư Lệnh Hải Quân tháng trước, ngày đó
cũng mới từ xa về, được hướng dẫn xuống
Soái Hạm HQ 1, đậu ở vị trí 1 gần sát
đường lộ mặt tiền BTL.HQ. HQ 1 rời bến
đầu tiên sau đó mắc cạn phải chờ kéo
đi. Ở vị trí số 2 cặp chính giữa là HQ
3 – Phạm Ngũ Lăo, Ngoài cùng vị trí số 3
là HQ 2 – Trần Quang Khải do Trung Tá
Đinh Mạnh Hùng là Hạm Trưởng đă tuân
theo kế hoạch rời bến gần giữa đêm “giờ
Zéro”. Có các chiến hạm khác kể cả các
chiến hạm PCF trong nhóm tầu của Phó Đề
Đốc Hoàng Cơ Minh chỉ huy đă rời bến từ
sớm. Mỗi khi có một chiến hạm tách bến
lại có vài người trên bờ nổ súng… Và
nhiều trực thăng bay lượn xa gần ṿng
quanh Bộ Tư Lệnh càng lúc càng nhiều như
muốn được nhảy xuống nước để được HQ
vớt.
Khi Chiến hạm rời bến, người ta nh́n
thấy ngọn lửa đang bốc cao từ Kho Đạn
Thành Tuy Hạ và Kho Xăng Nhà Bè. Mặc dù
trước đó cũng có nhiều người rời Sài G̣n
từ khu vực Quân Cảng vùng Cát Lái hướng
về Phú Quốc. Trong lúc này Phi Trường
Tân Sơn Nhất và Bộ Tư Lệnh Không Quân đă
là trọng điểm của những đợt pháo kích,
nhiều cấp tướng và cấp tá đă cho biết họ
không c̣n t́m được máy bay để rời Sài
G̣n. H́nh ảnh Bộ Tư Lệnh Hải Quân và
sông Sài G̣n bị pháo kích cũng trong tầm
tiên liệu và lo âu như phi trường, nhưng
làn sóng người vẫn kéo về thật đông.
Sáng sớm ngày 30 tháng 4, theo lệnh từ
Trung Ương chính phủ, HQ Trung Tá Lê Như
Linh cho phát ra lời kêu gọi các chiến
hạm đừng rời bến trên hệ thống tryền tin
nội bộ. Riêng HQ Đại Tá Nguyễn Văn Tấn
quyền Tư Lệnh BTLHQ, sau khi đi họp với
Tướng Vĩnh Lộc từ 7 giờ 30 sáng, có cả
ông Vanuxem cựu tướng lănh Pháp trong
buổi họp này. Tướng Vĩnh Lộc đă ra lệnh
Hải Quân phải cung cấp chiến hạm cho
ông. Trở về BTL/HQ ngay sau đó Đại Tá
Tấn đă ra lệnh cho Sĩ Quan Báo Chí viết
các lời kêu gọi của TL/HQ “ban hành lệnh
cho anh em chiến sĩ tiếp tục giữ vững
tay súng” và không đi đâu cả. Sĩ Quan
Báo Chí HQ lúc ấy đă không viết hoặc đọc
được lời kêu gọi này.
Trưởng khối CTCT là Đại Tá Triết đă rời
nhiệm sở, để nắm quyền kiểm soát, cho
phép từng người xuống chiến hạm. Theo
lời Tướng Chí cho biết: ông Triết đă rời
bến nhanh chóng và có mặt ở Phi đầu
tiên, mà không đi theo 3 phân đội di tản
của HQVN.
Lúc bấy giờ Bộ Tư Lệnh HQ có Thiếu Tá
Trần Bá Hạnh là người thân cận nhất với
hàng tổng trưởng mới, thân tín của Tổng
Thống “Big Minh”. Ông Hạnh đi ra đi vào
nói năng với nét mặt lạc quan, kể cả
trong giờ phút tân nội các Vũ Văn Mẫu
đ̣i trục xuất cơ quan DAO và lực lượng
Hoa Kỳ. Thực sự Tướng Cang, là người lâu
nay thường xuyên liên lạc chặt chẽ với
Tổng Tham Mưu, Dinh Độc Lập, với ông
Thiệu… Ông nổi danh từ khi tham gia đảo
chánh 1-11-63 thành công. Nhưng giờ phút
này ông Cang để cho Phó Đề Đốc Diệp
Quang Thủy có Thiếu Tá Phước đi cùng,
thay mặt ông là “con thoi” với ông Dương
Văn Minh khi cần.
Các chức vụ xung quanh Tướng Cang như:
Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí, Tư Lệnh Hành
Quân Lưu Động Biển; Đại Tá Nguyễn Xuân
Sơn, Tư Lệnh Hạm Đội; Đại Tá Đỗ Kiểm,
Tham Mưu Phó Hành Quân; Đại Tá Luân, Chỉ
Huy Trưởng Khối Tiếp Vận; Đại Tá Phạm
Mạnh Khuê-tân Tham Mưu Trưởng Hành Quân
Biển, thế chỗ Đại Tá Sơn vào ngày chót;
Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy, Tham Mưu
Trưởng Hải Quân; Phó Đề Đốc Đinh Mạnh
Hùng, Tư Lệnh Hành QuânLưu Động Sông;
Đại Tá Dơng, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Nhiệm
99. Những cách biệt cá nhân không c̣n
nữa, cuộc di tản mang họ lại gần nhau.
Riêng trường hợp cá nhân tôi, là một sĩ
quan rất trẻ, lúc ấy mang cấp bậc Trung
Úy, và phục vụ trong pḥng Báo Chí thuộc
BTL/HQ, tôi c̣n nhớ trong những giây
phút hoang mang ấy có bạn thân quen lo
toan xung quanh. Như Đại Úy Đặng Phú
Thiệt từ Đại Học Chiến Tranh Chính Trị
về phục vụ trong Khối Chính Huấn Hải
Quân cũng bàn với tôi, chiếm đoạt một
chiến hạm loại nhỏ càng sớm càng tốt rời
Sài G̣n ra đi khi bị bỏ rơi.., Trung Tá
Trịnh Tiến Hùng, rất thân, ông cũng là
cánh tay mặt của Đại Tá Sơn, sau khi lo
cho người thân và nhân viên thuộc cấp
cũng muốn tôi và gia đ́nh lên tầu, ông
Hùng đă lên máy bay đi vào ngày cận
chót.
Như anh Nguyễn Viết Kim tức nhà văn
Người Khăn Trắng, trong ngày 29 tháng 4,
nhân việc đi săn tin tức, chở tôi trên
chiếc xe Honda đàn ông đỏ của anh, tâm
sự với nhau những lời từ giă v́ vợ con
anh đă ra Vũng Tầu và ra khơi rồi. Anh
đang t́m đường gấp rút ra đi. Chúng tôi
nói những lời chia tay từ đó.
Như Vơ Hà Anh, vừa là Thượng Sĩ phóng
viên và cũng là nhà văn nổi tiếng thời
ấy tên Dung-Vơ Hà Anh, th́ rất chu đáo
và lo cho pḥng Báo Chí chúng tôi những
giấy tờ lên máy bay đặc biệt do cơ quan
DAO cấp cho thân nhân người Hoa Kỳ
Như Thiếu Tá Nguyễn Đ́nh Sài, tác giả
của vài bài thơ mới thời ấy vẫn rất
nghiêm chỉnh cùng với nhóm sĩ quan BTL
vào doanh trại kiểm soát các toán trực
gác mỗi đêm kể cả vào những đêm cuối.
Và chúng tôi vẫn gặp bạn cũ, Đại Úy Lê
Rĩnh, tùy viên của Phó Đề Đốc Đinh Mạnh
Hùng; Hà Thúc Sinh say mê làm thơ và
dịch sách là Trung Uư đơn vị trưởng Hải
Tiếp Vụ tại HQCX. Tuy nhiên giống như
trường hợp nhiều người khác, họ cũng
không liên lạc được với máy bay của DAO,
v́ con số người cần bốc khỏi Sài G̣n
ngày càng tăng, nhiều quân nhân và giới
chức Hoa Kỳ vẫn chưa kịp lên máy bay rời
Sài G̣n được…
Và dù biết danh sách các địa điểm trực
thăng đón và có danh sách được đón đi,
tôi cũng chẳng màng chờ nghe bài hát
White Christmas được cho biết mật từ một
tuần trước..
Tôi không c̣n gặp một bạn hữu hoặc nhân
viên nào của Pḥng Thông Tin Báo Chí
nữa, như Triều Dương, Nguyễn Tất Ứng,
Trung, Cẩm Vân… từ chiều 29-4-75.
Đêm 29–4 tại Bộ Tư Lệnh, Sĩ quan và đoàn
viên, họï gọi nhau ới ới, mở lối đi về
hướng cầu tầu cho quân nhân “Xuống tầu
đi ḱa, gấp lên tầu rời bến đêm nay…”
Chiếc TV để giữa cổng ra vào từ đêm
21-4, ông Thiệu đọc diễn văn từ chức vẫn
chớp h́nh mà không ai muốn nh́n. Tôi lại
rời BTL, lái xe về nhà với ư định mang
gia đ́nh xuống chiến hạm ra đi theo bạn
bè, đồng đội.
Chi Tiết Di Tản Của Hải Quân Và Ông
Armitage
Lúc này có một sĩ quan liên lạc cấp tốc
từ Hoa Thịnh Đốn cử tới là cựu Thiếu Tá
Richard Armitage, là tùy viên viên quân
sự Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ. Nay là thứ trưởng
Bộ Ngọai Giao. Ai cũng có thể hiểu ông
đă đóng vai tṛ theo dơi, đôn đốc cuộc
“Di Tản- Lui Binh” êm thắm và bí ẩn theo
ư muốn của chánh phủ Hoa Kỳ chứ không
hẳn là theo ư của Tư Lệnh Cang. Tuy vậy
Phó Đô Đốc Cang cho biết “ông Armitage
cũng không làm điều ǵ to tát và không
tỏ lộ là người có quyền chỉ huy trong
cuộc di tản như những lo ngại”… khi nhắc
tới vai tṛ sĩ quan Hoa Kỳ này.
Đối với chính phủ Hoa Kỳ, ông Armitage
mới là người đích thực lănh trách vụ
trong chiến dịch mang quân nhân, viên
chức Hoa Kỳ liên quan đến HQ c̣n lại,
toàn thể quân nhân HK tại Sàig̣n lúc ấy
chỉ c̣n khoảng 900 người cần mang ra
khỏi VN càng sớm càng tốt.
Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng đă hướng dẫn
sĩ quan liên lạc Armitage thăm vùng cầu
B́nh Lợi, quan sát khu Quân Cảng và HQCX
sau đó đi xuống Chiến Hạm HQ 3 rồi
chuyển qua HQ 5, và sau đó đón Tướng
Cang và Tướng Diệp Quang Thủy từ một
Tiểu Đỉnh lên Soái Hạm, thay v́ xuống
chiến hạm từ Bộ Tư Lệnh như bao nhiêu
người khác để bảo mật.
Ai Là Quyền Tư Lệnh Cuối Cùng Trên Đất
Liền?
Chiều hôm 29-4-75, Pḥng báo chí Hải
Quân nhận lệnh theo dơi các diễn biến đi
họp tại Tổng Tham Mưu, như lời kêu gọi.
Khuya 29 và rạng sáng ngày 30 tháng 4
lại được lệnh từ Đại Tá Tấn, hành xử như
nhân vật số 1 của HQ; Đại Tá Tấn cũng
mời Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng từ Miền
Tây về cùng ông chỉ huy, Tướng Thăng nói
“ Chờ tôi lấy trực thăng và sẽ có mặt
tại BTL.” Và đến gần trưa 30 tháng 4 vài
giờ trước khi Tổng Thống Minh chính thức
đọc lời đầu hàng lại có sự xuất hiện của
Đại Tá Trần B́nh Phú, Trưởng Khối Nhân
Viên Bộ Tư Lệnh được Tư Lệnh Cang (hay
ông Tấn) chuyển lại quyền ra mặt, ở lại
kiểm soát, chỉ huy Hải Quân.
Nhiều người gọi ông Đại Tá Tấn là Tư
Lệnh cuối tháng Tư, và ông cũng ra lệnh
cho vài hạm trưởng trong ngày 29-4-
“nhân danh Tư Lệnh” (dù không nói rơ Tư
Lệnh tên ǵ), nhưng không xác định Tư
Lệnh là chính ông hay không? Người ta
thấy trong ngày 29 tháng Tư, ông Tấn
trong quân phục đại lễ HQ, có hai xe
Jeep Quân Cảnh hộ tống vào Bộ Tư Lệnh
HQ.
Người ta tin rằng Đại Tá Tấn đă được
Tổng Thống Dương Văn Minh bổ nhậm bằng
khẩu lệnh ngay sau khi biết ư định của
Tư Lệnh Hải Quân Chung Tấn Cang xin có
kế hoạch di tản. Ông Minh nói, “Các anh
cứ việc đi và cho mang theo hai người
thân cũng là sĩ quan cao cấp VNCH”, đồng
thời từ chối lên một chiến hạm chuẩn bị
chu đáo “dành riêng để nghinh đón Nội
Các và di tản các giới lănh đạo quốc
gia”.
Sau 16 năm tù “cải tạo” cay đắng nhục
nhằn, đi Hoa Kỳ tị nạn, Đại Tá Tấn có ư
định định cư tại thành phố Seattle cùng
với Đại Tá Dũ (Cơ Khí), sau đó ông Tấn
di chuyển về Cali. Khi được hỏi ông có
phải là quyền Tư Lệnh ngày 30-4 không?
Đại Tá Tấn giữ thái độ yên lặng và xác
nhận vai tṛ của ông trong nỗ lực tuyệt
vọng này.
Bấy giờ nhiều cánh quân VC đă vào tới
Sài G̣n, xe tăng T-54 đă nghiến ḷng
đường phố Sài G̣n tới góc đường Đinh
Tiên Hoàng, Hiền Vương, Hai Bà Trưng và
nhiều nơi khác. Mặt khác đoàn quân CS
Bắc Việt cũng trên đường tiến tới ủi xập
cổng sắt Dinh Độc Lập và đ̣i chánh phủ
VNCH phải đầu hàng.
Trong khi đó Đại Tá Trần B́nh Phú,
Trưởng Khối Nhân Viên cũng được các sĩ
quan tham mưu và nhân viên có mặt lúc ấy
xác nhận ông là người ra mặt chỉ huy tại
Bộ Tư Lệnh. Trung uư Đỗ Anh Tuấn em vợ
của Đại Tá Trần B́nh Phú cùng với Trung
Tá Phan Ngọc Xuân chỉ huy trưởng Tổng
Hành Dinh BTL/HQ tiếp tục cầm súng chỉ
huy những vị này và vài sĩ quan, hạ sĩ
quan thuộc Khối An Ninh đi theo Đại Tá
Tấn là những người cuối cùng tôi gặp và
từ giă ở ṿng vây rào kẽm gai chằng
chịt.
BTL/HQ Bỏ Ngỏ Từ Lúc Tổng Thống Đầu Hàng
Giờ phút ấy tôi không nghĩ được phải làm
ǵ, bỏ chạy ra xe về đón gia đ́nh xuống
tàu hay ra vài điểm hẹn “chờ Trực
Thăng”? Không hiểu tại sao giờ phút đó
chúng tôi c̣n đủ b́nh tĩnh, không sợ
pháo kích và T-54 càn nát người và tiến
vào ṿng rào Hải Quân không chừng?
Trong giờ phút căng thẳng tôi nghe theo
lời yêu cầu của người bạn, chỉ biết
Trung Úy Đỗ Anh Tuấn là người thân tín,
kỷ luật bạn học trường Taberd, vào cùng
quân chủng giao súng, khẩn khoản mong
tôi đứng trong đội ngũ bảo vệ cuối cùng
Bộ Tư Lệnh dưới quyền chỉ huy của Đại Tá
Phú. Tôi làm theo yêu cầu, cho đến khi
biết rằng: Thật sự tuyệt vọng rồi, như
lời anh Đệ thông tấn viên truyền h́nh
ABC, anh Nick Út thông tấn AP, hai anh
hôm trước đến chia tay tôi tại BTL/HQ và
muốn rủ cô em B́nh Minh cùng theo anh
lên máy bay Hoa Kỳ. Họ đưa tôi bản tin
từ tờ New York Times từ ngày 24-4-75
viết về sự thất thủ đă là sự thực không
chối căi được khi viện trợ Hoa Kỳ cho
VNCH đă bị ngưng. Chấm dứt bao nhiêu năm
sát cánh: với 58,000 người lính Hoa Kỳ
tử vong có lúc quân số lính Mỹ ở VN lên
tới trên nửa triệu người, cũng như tổng
cộng gần 200 tỷ đô la đă tiêu pha cho
cuộc chiến tranh VN, với khoảng 500
triệu cho tài khoá năm cuối, viện trợ
không bằng hiện kim mà viện trợ bằng
thuốc lá dự trù cho tài khoá sau 1975
cũng bị cắt đứt. Hải Quân lúc ấy có
quân số trên 40 ngàn chiến sĩ… nhưng
viện trợ nay thực sự bị cắt ngang rồi!
“Hăy rời Sài G̣n ngay hôm nay đi – không
thể là ngày mai!”. Phóng viên AP, Nick
Út, và Đệ của Hệ thống Truyền h́nh Hoa
Kỳ ABC và ông Ba Lê của Truyền H́nh Nhật
NHK cùng nói như vậy. “Đừng để quá
muộn!”
Cũng vào gần buổi trưa, Trung Tướng Vĩnh
Lộc rời Bộ TTM và Trung Tướng Trần Văn
Trung cũng đi vào Bến Bạch Đằng gặp Đại
Tá Tấn t́m tầu ra đi. Lúc này th́ công
trường Bạch Đằng cũng vẫn c̣n nhiều
người chen lấn. Trước đó một giờ Giáo Sư
Lê Đ́nh Chi, cùng với gia đ́nh ông có Lê
Đ́nh Cẩm, Nguyễn Hữu Phúc (Puyallup),
Huyên… là những người thân cũ trên một
chiếc xe van đến kiếm chúng tôi t́m
đường ra đi, nhưng tôi cũng đang trong
trạng thái vô cùng bối rối nên không
thực hiện được lời hứa: cùng đi với họ
trên chuyến Tàu của Trung Úy Đỗ Anh
Tuấn, nếu giờ phút đau ḷng tuyệt vọng
xảy ra.
Lúc ấy Thiếu Tá Trần Thiện Hiệp trong
một may mắn bất ngờ sau khi chờ đợi được
đi theo cựu Tư Lệnh Trần Văn Chơn, đă
nhẩy xuống chiếc chiến hạm nhỏ đậu gần
HQCX, mang theo được hai vị tướng Quân
Lực Việt Nam Cộng Ḥa vào giờ chót:
Tướng Trung và Tướng Vĩnh Lộc lúc ấy là
Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực theo lời
yêu cầu của Đại Tá Tấn, giúp Tướng Tổng
Tham Mưu Trưởng Vĩnh Lộc rời Sài G̣n,
đúng vào lúc tướng Nguyễn Hữu Hạnh lên
thay.
Tướng Lộc trước đó cũng đă từng kêu gọi
giữ vững tay súng, Tướng Lộc cũng miệt
thị Đại Tướng Viên về hành động đào tẩu.
Nhưng vào sáng ngày 30 tháng Tư, ông
Vĩnh Lộc đă nhờ Trung Uư Hùng lái xe
Jeep “chở tới Đài Phát Thanh Sài G̣n để
gửi đi thêm một thông điệp mới”. Thay v́
tới đài phát thanh, ông đă đi đón ca sĩ
Minh Hiếu và chia tay với Hùng ở Bộ Tư
Lệnh Hải Quân.
Vào sáng ngày này, hệ thống vô tuyến có
rất nhiều lời gọi máy của các tướng tá,
sĩ quan Bộ Binh thiết tha kêu gọi: “Các
anh Hải Quân ơi, chờ chúng tôi đi với,
hăy cứu lấy chúng tôi v́ phi trường Tân
Sơn Nhất cũng đă tan nát rồi. Đâu c̣n
ngă nào để tránh CS đâu? – VC đă vào tới.
HQ đừng đi vội kiên nhẫn chờ cứu chúng
tôi.”
Nhưng bây giờ là trưa 30 tháng Tư – quá
muộn thật rồi”… Các nẻo đường đă rền
tiếng xe tăng, và tiếng đạn pháo kích
thi nhau rền vang rất gần, và súng đă
cùng với quân phục mũ nón vung văi chất
đống khắp nẻo đường từ BTL/HQ về tới Phú
Nhuận nơi tôi đang cư trú tạm.
Khác với Đại Tá Tấn ở lại và đi tù trên
16 năm, Đại Tá Phú cũng xuất hiện như
chớp nhoáng trong ngày 30-4, nhưng Đại
Tá Phú cùng Trung Úy Tuấn đă kịp xuống
tầu rời Bến Bạch Đằng ra biển ngay vào
giờ phút ông Minh đọc lời đầu hàng trên
radio.
Và giờ phút ấy đă xảy ra thật. Nhanh
chóng như một chợp mắt. Từ đó radio đă
nhiều lần đọc lời kêu gọi buông súng và
đầu hàng. Thôi thế là hết tất cả, không
theo tầu di tản về Miền Tây, không ra
Phú Quốc, và cũng không được theo tầu ra
khơi đi tị nạn.
Tôi rời Công Trường Bạch Đằng có tượng
đài Đức Thánh Trần, cổng vào Bộ Tư Lệnh,
t́m Tuấn, sau đó lái xe lách xe qua
những tốp người đang hôi của tại khách
sạn và căn cứ Mỹ tại các cao ốc xung
quanh Bộ Tư Lệnh Hải Quân, để về nhà đón
người thân yêu ra đi.
Tôi cùng với gia đ́nh trở lại Bến Bạch
Đằng và chạy tiếp tới Đặc Khu Rừng Sát
để t́m tàu rời Sài G̣n th́ bến bờ đă
hoang vắng… Vô phương trong lúc tiếng
pháo kích nổ vang.
Ḷng cảm thấy như ông Dương Văn Minh đă
mở “Lỗ Lù” (*) của chiến hạm đời tôi…
Lúc ấy tôi cảm thấy như đă quá muộn, tôi
như lặng lờ chết ch́m, ch́m dần… khoan
thai xuống ḷng biển.
Như từ đáy biển sâu, tôi cầu mong cho
vài chục chiến hạm và vài chục ngàn quân
nhân và dân chúng miền Nam đi thoát
được, khai mở ra những đợt thuyền nhân
kế tiếp, Nếu họ không tập trung chiến
đấu ở Miền Tây được, th́ cũng tiếp tục
“Khai phá mở mang bờ cơi sơn hà theo
bước chân tiền nhân” bằng h́nh thức
“mang Việt Nam ra khơi tới khắp năm
châu, tận cuối chân trời và trên toàn
cơi địa cầu.
Phạm Kim
NHỮNG NGƯỜI LÍNH
Tôi đặt hành lư vào hộc ở trên đầu
rồi ngồi xuống ghế. Đây là chuyến
bay dài làm tôi ước ǵ ḿnh có một
quyển sách hay để đọc trên phi tŕnh.
Có lẽ tôi cũng cần chợp mắt một chút.
Vừa lúc trước khi máy bay cất cánh,
một nhóm 10 người lính trẻ men theo
lối đi và ngồi hết vào các chỗ trống
rải rác c̣n lại. Chẳng có ǵ để làm,
tôi bắt đầu gợi chuyện người lính
ngồi gần nhất:
- Các cậu đi tới đâu vậy?
- Petawawa. Chúng tôi sẽ ở đó hai
tuần để thụ huấn một chương tŕnh
huấn luyện đặc biệt rồi sau đó sẽ bổ
sung tới A Phú Hăn.
Sau khi máy bay cất cánh độ một
tiếng th́ tiếng loa thông báo là
trên máy bay có bán thức ăn nhẹ đựng
trong bao giá 5 mỹ kim.
Cũng c̣n lâu lắm chuyến bay mới tới
phía Đông nên tôi quyết định mua một
bao đồ ăn để vừa ăn vừa giết th́ giờ..
Khi tôi móc bóp lấy tiền th́ chợt
nghe một người lính hỏi bạn ḿnh là
có muốn mua thức ăn không.
- Không! Có vẻ như mắc quá đó.. Bao
lunch ǵ mà tới 5$.
Thôi tao ráng đợi tới căn cứ hẳn
hay.
Và anh lính trẻ gật gù đồng ư với
bạn.
Tôi đảo mắt nh́n chung quanh th́
thấy mấy người lính khác cũng không
có ư định mua ǵ cả mặc dù lúc đó
cũng đă tới giờ ăn trưa rồi. Một ư
nghĩ chợt đến trong đầu, tôi gọi
người nữ tiếp viên tới đưa cho bà ta
50$ và nói:
- Xin bà vui ḷng lấy thức ăn cho
những người lính nầy.
Người tiếp viên ngạc nhiên nắm chặt
lấy tay tôi, qua đôi mắt long lanh
ngấn lệ v́ xúc động, bà ngơ lới cám
ơn tôi và nghẹn ngào:
- Con trai tôi cũng là một quân nhân
đang chiến đấu tại Iraq . Nghĩa cử
nầy của ông như đang dành cho nó vậy.
Rồi bà xăng xái đi lấy 10 bịch đồ ăn
trao cho tất cả các người lính trên
tàu. Sau đó bà dừng lại chỗ tôi hỏi:
- Thưa ông dùng ǵ ạ? Ḅ, gà rất hảo
hạng.
- Xin cho tôi gà
Tôi trả lời bà ta trong một thoáng
ngạc nhiên v́ theo tôi biết hạng
economy bây giờ chỉ có BOB thôi mà.
Người nữ tiếp viên đi về phía trước
của máy bay độ một phút sau trở lại
với nguyên khay thức ăn nóng hổi
dành cho hành khách vé hạng nhất, bà
trịnh trọng nói với tôi:
- Đây là tấm ḷng tri ân nho nhỏ của
những người trên chuyến bay nầy đối
với ông
Sau khi ăn xong với tâm trạng sảng
khoái nhẹ nhàng, tôi bước tới pḥng
vệ sinh ở phía sau cùng. Trên đường
đi, một người đàn ông th́nh ĺnh
đứng lên chận tôi lại nói:
- Tôi rất cảm phục việc ông làm, xin
ông cho tôi được chia phần mà vui
ḷng nhận cho.
Nói xong, ông ta dúi vào tay tôi 25
mỹ kim.
Sau đó không lâu, viên phi công
trưởng rời buồng lái vừa đi vừa nh́n
số ghế ghi trên hộc hành lư, linh
cảm khiến tôi thầm mong ông ta đừng
kiếm tôi nhưng Chúa ơi! Ông ta dừng
lại ngay hàng ghế của tôi rồi cười
thật tươi và ch́a tay ra nói:
- Tôi muốn được bắt tay ông
Cực chẳng đă, tôi mở dây an toàn
đứng dậy bắt tay viên phi công
trưởng.
Với giọng hân hoan, ông ta nói lớn
như để mọi người cùng nghe:
- Tôi cũng đă từng là một quân nhân
và cũng là phi công chiến đấu. Có
một lần có người cũng mua cho tôi
thức ăn. Điều đó thực sự thể hiện cả
một tấm ḷng tốt đẹp mà tôi không
bao giờ quên.
Cả một tràng pháo tay tán thưởng
vang dội làm tôi đỏ bừng mặt v́ mắc
cở.
Chỉ với một hành động nhỏ nhặt tầm
thường của tôi mà đánh động lương
tâm con người đến thế sao?
V́ chuyến bay quá dài nên có một lúc,
tôi phải đi bộ về phía trước để rản
gân cốt th́ bỗng nhiên có một nam
hành khách ngồi trên tôi độ sáu dăy
đưa tay ra bắt và để lại trong tay
tôi cũng 25 mỹ kim.
Bầu không khí trên chuyến bay thật
nhẹ nhàng và chan hoà t́nh người cho
tới khi máy bay hạ cánh. Tôi lấy
hành lư và bắt đầu bước ra khi vừa
tới cửa máy bay th́ một người đàn
ông chận tôi lại và nhét nhanh vào
túi áo tôi một thứ ǵ đó xong ông ta
vội vả bước đi mà không nói một lời.
Lại thêm 25$ nữa.
Nếu tính ra, tôi chỉ chi có 50$ mà
bây giờ thu lại tới 75$. Kiếm được
25$ dễ dàng đến thế sao! À ! Quên!
C̣n bữa ăn thiệt ngon miệng nữa chứ.
Đúng là khi ta làm phải th́ không
bao giờ lỗ lă cả.
Tôi vui vẻ bước nhanh vào cửa phi
trường th́ thấy mấy người lính trẻ
kiểm điểm nhân số để chuẩn bị về căn
cứ. Tôi tiến tới trao cho họ 75 mỹ
kim và nói:
- Từ phi trường về tới trại phải khá
xa. Mà bây giờ cũng đă tới giờ để
dằn bụng một cái sandwich chứ. Chúa
sẽ ban ơn cho các cậu.
Mười người lính trẻ trong ngày hôm
đó chắc đă rời chuyến bay trong tâm
trạng yêu thương và kính mến những
hành khách đồng hành. Tôi hăng hái
bước tới xe với lời th́ thầm nguyện
cầu cho tất cả sẽ được trở về trong
an b́nh.
Những chàng trai nầy đă hy sinh tất
cả cho quê hương m