Home
K22 - Chúng ta là ai ?
Tin Túc K22
H́nh Anh K22
H́nh Anh K22 - Sinh Hoat QT
H́nh Anh K22 - Huan Nhuc
H́nh Anh K22 - Măn Khóa
H́nh Anh K22 - Thân Huu
Tam Tinh K22
Tuong Tro K22
Huong Dan Ky Thuat
Truong SQHQ/Nha Trang
Hai Quan Links
ĐẠI HỘI 2009

Trong suốt những năm tháng dài của cuộc chiến trên mănh đất mà chúng ta gọi là quê hương. Trong suốt quá tŕnh viễn du ở nơi những mănh đất mới xa thăm thẳm mà chúng ta tạm gọi là quê hương thứ hai, ở đó với tâm trạng của những người đă một lần khoát áo chiến y dong dă năm tháng khắp nẽo đường quê hương máu lữa. Không ít th́ nhiều cũng đă cho chúng ta một vài kỷ niệm, có thể là những kỷ niệm đẹp, mà cũng có thể là những kỷ niệm buồn. Dù sao đi nữa cũng vẫn là những kỷ niệm trong một quá tŕnh nào đó trong cuộc đời của mỗi chúng ta. Ngồi nhớ lại để rồi viết ra để chia sẽ với bạn bè đồng lứa đồng cảnh, chia sẻ những vui buồn, nhưng cũng có thể là những kinh nghiệm bản thân . Những lời trần t́nh mộc mạc không sáo ngữ chải chuốc như những danh hào tuyệt tác nào đó, những lới trần t́nh mang một tính chất “thật” trong từng nét chử, mang một tâm trạng “nhà binh” của những người mà một thời gian nào đó trong cuộc đời đă đem xương máu ḿnh để bảo vệ tổ quốc. Những bàn tay cầm súng ngày nào bổng trở thành những chàng văn nghệ dă chiến, dùng ngói bút cũa ḿnh để kể cho nhau nghe, chia sẽ với nhau những kỷ niệm của những ngày xưa thân ái. Cũng với tâm trạng đó Web22 thân mời các bạn đi vào Vườn Hoa Nghệ Thuật K22……

 

 

 

 

 

 

Thưởng thức âm nhạc,slide show trên Youtube do ND2 Nguyễn đ Trơn design, thực hiện. T́m lại vài giây phút êm ả

cho tâm hồn.

 

http://www.youtube.com/nguyentron22

 

 

 

 

“Anh hăy ngồi xuống đây!”

Hạ Đình Nguyên

(Viết từ TP Sài Gòn)

Nhiều người Việt có anh em ở cả hai phía trong cuộc chiến Việt Nam

Hôm ấy, tôi thức dậy muộn, v́ suốt đêm lo lắng và cảnh giác. Nghe tiếng cửa mở, ngóc đầu nh́n qua cửa sổ, thấy bốn lính thủy xuất hiện. Nh́n kỹ, may quá, trong đó có đứa em tôi, con chú, ở chung nhà, cấp bậc Trung sĩ, tên Hạ Minh Chung.

Bước vào nhà, đảo mắt nh́n, thấy tôi, nó nói liền:

-À, anh Ng., hôm nay em có chuyện muốn nói với anh…!

Tôi có cảm giác hơi lạ, lâu nay nó không có vẻ nghiêm chỉnh đến thế.

-Ừ, th́ sẵn sàng! Tôi trả lời, trong ḷng không khỏi ngạc nhiên.

Chung vào trong lấy ra một chiếc chiếu, trải giữa nhà, vào tủ lấy ly, lôi trong túi xách ra 2 chai rượu đế, bày ra chiếu. Cả bốn anh Hải quân ngồi lại.

Chung nh́n tôi, nói rơ ràng từng tiếng một, như ra lệnh:

-Anh hăy ngồi xuống đây!

Đó là thời điểm mấy ngày sau ngày Trung Quốc chiếm Hoàng Sa: 19 tháng 1 năm 1974. Lúc đó tôi mới từ nhà tù Côn Đảo trở về.

Tôi ngồi xuống.

Rượu được rót ra. Chung bảo phải uống cạn ly đă!

Chúng tôi cùng uống cạn.

Chung bắt đầu lên tiếng, không chút quanh co, dơng dạc từng tiếng một:

-Tại sao anh để Trung Cộng - phe anh - chiếm Hoàng Sa của Việt Nam?

Trời đất, tôi bất ngờ như bị một cú đánh vào đầu thấy bảy ông trời sao.

Trung Cộng chiếm Hoàng Sa cách đây mấy hôm, thuyền trưởng Ngụy văn Thà đă chết theo con tàu, theo truyền thống Hải quân, phẩm chất và tính cách tương xứng với chức trách mà anh đang nắm giữ, như cụ Phan Thanh Giản uống thuốc tự vẫn khi mất 3 tỉnh miên Tây. Sự hy sinh và cách hy sinh của Ngụy văn Thà đă gây nên sự xúc động trong quân đội VNCH và dân chúng.

Em tôi, trung sĩ Hải quân VNCH, không hiểu về chính trị, không quan tâm đến Quốc gia hay Cộng sản, không tâng bốc xun xoe với Mỹ, không bênh không chống VNCH, càng không chống không theo CS, nhưng nó lại tự hào bộ quân phục mà nó mặc, và cái binh chủng mà nó đứng dưới cờ.

Nó hạch tội tôi, cái tội gián tiếp, nó dùng chữ “phe anh” là bộc lộ thân phận giấu giếm của tôi, nó huych toẹt giữa chiến hữu của nó. Té ra, lâu nay nó biết tôi là ai, làm ǵ.

Nó chẳng phải là tư sản, chẳng phải là trí thức, không phải là công nông, nó là lính, trung sĩ, nó căm phẫn: Tại sao anh để “phe anh” chiếm Hoàng Sa của Việt Nam? Tôi biết trả lời sao đây! Trước hết, tôi với Trung Cộng xa lắc, Hà nội cũng xa, Rừng cũng xa. Họa hoằn lắm mới có một anh trong bí mật của Thành đoàn xuất hiện nói năm ba chút t́nh h́nh, mà chuyện nầy th́ anh ta cũng ú ớ thôi!

Tôi phải dở tṛ ba hoa, mồm loa mép giải để hạ nhiệt ḷng yêu nước chính đáng của nó:

-Trời đất, anh làm ǵ mà phe phái với Trung Cộng! Anh chỉ là sinh viên đấu tranh cho ḥa b́nh thôi, để chấm dứt chiến tranh, cho anh em thanh niên ḿnh đở chết. Mà Ḥa b́nh cũng sắp có rồi! Hiệp định kư rồi! Mỹ cũng đă rút về nước! Hai bên giằng co đôi chút rồi cũng phải ḥa nhau thôi…

Tôi lấy cái lư thuyết “Ḥa giải ḥa hợp dân tộc” mà chống đỡ. Không nói kiểu này th́ nói kiểu nào? Đang ở đây, không phải ở ngoài Bắc, không phải trong Rừng, mà đang ở giữa Sài G̣n, giữa bốn tên “Hải quân ngụy”, không chừng chúng có súng trong người cũng nên!

Bốn anh lính Hải quân VNCH cùng ngồi uống rượu, không phải rượu vui mà cuộc rượu buồn, rất buồn, không che dấu nỗi thất vọng, nỗi bi phẫn, than thở một cách chua chát:

- Tại sao chúng ỷ nước lớn hiếp nước nhỏ?

Tâm trạng người lính VNCH, khi Mỹ rút quân, vẫn hiểu ḿnh là nước nhỏ. Nhưng dù bé nhỏ vẫn phải độc lập. cái ư thức Độc lập mà phía Cách mạng tuyên truyền cũng có trong người họ lâu nay. Mỹ rút quân cũng có nghĩa Độc lập, nhưng họ hoài nghi Việt Cộng trong quan hệ Nga Tàu. Họ hy vọng vào ḥa giải ḥa hợp dân tộc, Việt Nam lại hợp chung một nhà, trừ những ai từng có trải nghiệm nào đó với Cách mạng.

"Ḷng tôi reo vui, nếu không th́ cũng lạnh lùng, khi Trung Cộng chiếm Hoàng Sa. Nghĩ rằng nó lấy giúp từ tay Mỹ, rồi giao lại cho Việt Nam sau này. Sự thật đă không phải thế, mà đă không chỉ có thế!"

Chống Mỹ Cứu Nước, Thanh Niên Miền Nam không căi được, nhưng Trung Cộng chiếm Hoàng Sa th́ làm sao giải thích? Nó là ǵ đây? Lời than thở của mấy chú lính thủy, của em tôi, chuyển sang một hướng cảm xúc khác cao hơn, thuần khiết hơn, nó không kết án tôi theo kiểu “phe anh”, mà thốt lên từ Nước Nhỏ. Nó đưa tôi về cùng một mẫu số chung, nó đă ḥa hợp dân tộc với tôi rồi. Chúng ta có chung một t́nh tự dân tộc Nước nhỏ, đứng trước hiểm họa chung là Nước lớn. Nó kêu gào công lư ở b́nh diện rộng hơn: Tại sao một nước lớn đi ăn hiếp một nước nhỏ?

Nỗi hoài nghi như đang tự giải mă.

Cái có lư lúc trước, lúc sau lại đang trở thành vô lư.

Ngày nay nhớ lại, tôi tự hổ thẹn với em ḿnh, v́ ư nghĩ của tôi lúc đó.

Tôi nói dối và lấp liếm sự thật. Nó biết tôi là Việt Cộng, tôi nói ḿnh chỉ là sinh viên thôi, và đấu tranh cho ḥa b́nh. Ḷng tôi reo vui, nếu không th́ cũng lạnh lùng, khi Trung Cộng chiếm Hoàng Sa. Nghĩ rằng nó lấy giúp từ tay Mỹ, rồi giao lại cho Việt Nam sau này. Sự thật đă không phải thế, mà đă không chỉ có thế!

Tôi không tự dằn vật ḿnh cho lắm. Từ lúc tuổi nhỏ đến cái tuổi ngoài 20, lịch sử đă cài đặt trong tôi một phần mềm hơi bị cũ hay đă rất lỗi thời, nhấp chuột lung tung chẳng thấy hiện lên cái điều ḿnh mong muốn, chỉ thấy sự nhảy múa của dă thú và thiên thần. Mà thiên thần th́ nở ra từ trứng, mà trứng th́ do dă thú đẻ ra!

Chiều ngày 29 tháng 4, giờ thứ 25 của cuộc chiến.

Bịn rịn với gia đ́nh, giằng co với lư trí, Chung chia tay với mọi người thân sơ, vẫn trong bộ đồ hải quân rất ư hănh diện, hớt hải chạy xuống Nhà bè, lên một chiếc Hải thuyền cùng đồng đội của nó, vượt qua sông rạch trong đêm, bị súng trên bờ dập xuống, suưt chết mấy đợt, vượt ra được biển khơi có tàu lớn đợi.

Nó định cư ở Mỹ, một thời gian làm Cảnh sát khu vực rồi nghỉ hưu. Mỗi năm đều về thăm nhà, không bao giờ nói chính trị, không nhắc đến Hoàng Sa. Tôi cũng thế! Tôi vờ quên đi, nó vờ quên đi. Nhưng tôi vẫn nhớ, nó vẫn nhớ. Nó vờ quên v́ ḷng nhân hậu của nó đối với tôi. Tôi vờ quên v́ ḷng hổ thẹn bởi sự không toàn vẹn lănh thổ. V́ không chỉ có Hoàng Sa, mà c̣n Trường Sa, và bao nhiêu vùng nữa trong đất liền.

Ban đầu, khi bỏ chạy, nó nghĩ nó là kẻ thua cuộc, thiếu chính nghĩa v́ đi với Mỹ. Sau này nó không nghĩ thế, có thể nó nghĩ kẻ ấy là tôi. Một cú đánh hồi mă thương đau đớn của lịch sử, một sụ lừa mỵ có tính thời đại…

"Tuổi trẻ Việt Nam phải dứt khoát cài đặt lại phần mềm mới cho ḿnh để phù hợp với tŕnh độ của thời đại, đáp ứng yêu cầu cấp bách của dân tộc."

Chung chỉ khoe với tôi, nó câu được những hai cô bồ, mỗi lần về nước đều được rỉ rả vui vẻ.

“Anh hăy ngồi xuống đây!" là câu nói tôi không quên. Tôi cũng muốn nói: Em hăy ngồi xuống đây! Nhưng tôi chưa từng thốt lên được, v́ không dám đối diện sự thật.

H́nh như bạn bè tôi cũng thế, họ làm như họ chỉ có những chuyện bâng quơ thôi, với chút tự hào an ủi cần cù nhặt nhạnh. Tôi cũng muốn nói: Tất cả chúng ta hăy ngồi xuống đây! Chuyện nước cũng chính là chuyện nhà, phải chân thực, phải có cảm xúc đồng- bào. Phải là từ ngữ thân thương NƯỚC- NHÀ, thấm đẫm t́nh tự dân tộc, chứ không phải từ Nhà Nước, chỉ trơ ra, thành đồng nghĩa với quyền và lợi.

Các học thuyết chỉ là những tấm da lừa trên yên ngựa, dù sao cũng đă cũ nát lắm rối, không dùng được nữa!

Thắng thua đă rơ, nhưng cũng chẳng để làm ǵ, đến nước này! Những cái mồm bên kia đại dương chỏ về chửi rủa chẳng ích chi, giống như đại úy Minh giẫm chân vào mồm người biểu t́nh, chỉ rách việc!

Phải nhận chân được kẻ thù mới của thời đại, chúng đang xâm thực đất liền và quậy đục Biển Đông, chúng “dă thú” biết chừng nào với đồng bào của chúng, nói chi đến chư quốc lân bang thế giới đại đồng!

Tuổi trẻ Việt Nam phải dứt khoát cài đặt lại phần mềm mới cho ḿnh để phù hợp với tŕnh độ của thời đại, đáp ứng yêu cầu cấp bách của dân tộc.

Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong của tác giả, nguyên chủ tịch Ủy ban tranh đấu Tổng hội Sinh viên Sài Gòn.

 

 

 

 

 

 

 

VÀI H̀NH ẢNH HQ/VNCH TRONG NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CHIẾN TRANH VN:

 

 

 

 

TÀI LIỆU HQ/VNCH hải hành tập đội đi Subic Bay (philippine)

Cuộc phỏng vấn Đ/T Đổ Kiểm (Đài SBTN)

Tài liệu nên xem

http://www.youtube.com/watch?v=bk6s3CZguWI


http://www.kirk1087.org/frequent-wind/

http://www.npr.org/series/129580052/the-uss-kirk-valor-at-the-vietnam-war-s-end

 

 

Cuốn phim "The Lucky Few" nói về cuộc di tản cũa HQ/VNCH trong ngày 30-4-1975

 

 

 

 

 

NGƯỜI CON GÁI ĐÀ NẲNG

 

 

 

 

NGƯỜI CON GÁI ĐÀ NẲNG :  Phim bắt đầu bằng các tài liệu liên quan đến những chuyến bay di tản trẻ em mồ côi và cả trẻ em có cha mẹ, được gửi đi Hoa Kỳ làm con nuôi vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975.

Một trong các em bé năm 75 nay đă hơn 30 tuổi, lai Mỹ, t́nh cờ t́m được tin tức bà mẹ và gia đ́nh hiện ở Đà Nẵng. Sợi dây t́nh nghĩa mong manh được nối lại. Lẫn với các phim tài liệu, đạo diễn đă dựng lên một câu chuyện kể lại tâm sự bà mẹ ở Việt Nam và cô con gái lai tại Hoa Kỳ. Cô bé hoàn toàn không biết tiếng Việt, không c̣n nhân dáng Việt, không biết tin tức về người cha là lính Mỹ một thời ở miền Trung. Cô kết hôn với một sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ đă có hai con. Bà mẹ Việt Nam ở Đà Nẵng ngày nay kết hợp lại với người chồng Việt Nam cũ, có nhiều con trai và gái. Đó là anh chị em với cô gái lai đă được gửi đi làm con nuôi tại Hoa Kỳ. Tất cả đều là các nhân vật thật, đóng lại cuộc đời của họ.
Cả nhà chờ đợi ngày về thăm quê của người con gái Đà Nẵng. Từ hai đầu câu chuyện, nói tiếng Anh, có nhiều đoạn bằng Việt ngữ được phụ đề Anh ngữ, việc gặp gỡ tại Việt Nam được thực hiện. Đó là chuyến trở về quê hương lần đầu và rất có thể là lần duy nhất.

H́nh ảnh gia đ́nh Việt Nam ở Đà Nẵng là h́nh ảnh rất thông thường như đa số người Việt hiện nay đă biết. Đại gia đ́nh nhiều anh em, bần hàn nhưng không quá nghèo đói.

Hoàn cảnh gia đ́nh cô gái lai tại Hoa Kỳ cũng thuộc giới trung lưu, không giàu có ǵ. Tuy nhiên rơ ràng là hai nếp sống khác biệt. Cô gái lai trở về tuy đă có chuẩn bị học nói những lời thương yêu bằng Việt ngữ: " Con yêu mẹ. Con xin chào mẹ v.v... Những rơ ràng là cô đang ở tâm trạng ṭ ṃ và không hề được hướng dẫn tâm tư cho việc đoàn tụ. Đó có thể là diễn tiến tự nhiên, hoặc là đạo diễn muốn câu chuyện cứ xẩy ra như vậy.

Sau buổi gặp gỡ cảm động tại phi trường, tiếp đến những ngày sống bên nhau tuy ngắn ngủi nhưng rất nhiều gượng gạo. Cô gái không thích ứng được cuộc sống thiếu tiện nghi tối thiểu. Không khí nóng nực, những buổi đi chợ quê mùi thịt cá hôi tanh, trong khi bà mẹ muốn khoe con gái ở Mỹ mới về, nên cứ la cà đây đó. Người con gái Đà Nẵng chỉ muốn ra khỏi ngôi chợ xa lạ.

Trong câu chuyện kể lại, các anh chị nói về những ngày thơ ấu, vất vả nuôi cô em lai, rồi lo cho bà mẹ mà cô gái đă bỏ lại. Đă có những lời lẽ kể công và những đ̣i hỏi ràng buộc trách nhiệm mà cô gái lai ngày nay, đă hoàn toàn trở thành một phụ nữ Mỹ vô tư, không thể cảm nhận được.

Buổi họp mặt gia đ́nh lần cuối trước khi chia tay đă đưa câu chuyện lúc mở đầu trùng phùng cảm động sau 30 năm xa cách, nay trở thành một bi kịch.

Các anh chị em, qua thông dịch viên, đă đặt thẳng vấn đề yêu cầu cô em lai đưa mẹ qua Mỹ để lo cho bà có cuộc sống đă từ lâu mong đợi. Và trong hiện tại th́ cô em cần cho biết là mỗi tháng giúp cho gia đ́nh được bao nhiêu. Xin nói cho cả nhà được rơ.

Và người con gái Đà Nẵng không thể hứa hẹn, không thể tài trợ được, nên đă gần như khóc lóc và bỏ chạy.

Rồi chuyến trở về Hoa Kỳ được tiễn đưa gượng gạo. H́nh ảnh đưa người con gái lai về Mỹ khác xa cảnh những đứa trẻ ngày xưa lên máy bay qua Hoa Kỳ. Đạo diễn tiếp tục cho hai đầu câu chuyện nối tiếp. Người con gái Đà Nẵng trở về Mỹ, thất vọng với quá khứ và cũng không thể chia sẻ với chồng con. Trong khi đó tại Việt Nam, anh em than thở v́ cho là ngôn ngữ bất đồng. Bà mẹ Đà Nẵng vẫn tiếp tục khóc. Và câu chuyện ngưng lại ở đó. Khán giả sẽ tự t́m ra câu trả lời.

 

 

 

 

Operation Frequent Wind

Một chuyến công tác mật cũa USS Kirk và cuộc di tản cũa HQ/ QLVNCH 30/4/75

As of: 09/16/2007
Copyright © 2007 USS KIRK (DE/FF-1087) Association

Hunt. Kill. Two simple words that leave little to the imagination. In naval warfare they are the stark “bottom line” of antisubmarine warfare. The 46 destroyer escorts of the KNOX class entered the fleet in the late-1960s and early-1970s, heirs to the proud tradition of the deadly “Hunter-Killer” task groups of WW-II and the Cold War.

USS KIRK (DE-1087) was one of those ships. She was built to stalk, to pursue, to ensnare, and then to mercilessly pound her submarine prey down into the depths of the cold, dark sea. She was a warship in every sense, an efficient, utilitarian, deadly fighting machine. Yet some of her finest hours were spent tending pregnant women, soothing terrified little children, and saving the lives of tens of thousands. This is the incredible story of a brief episode in the early years of the long life of USS KIRK.

A CHANGE OF PLANS

KIRK sailed from San Diego in early March 1975, beginning her second Western Pacific deployment since commissioning in 1972. She was fully manned, fully trained, and loaded for bear. KIRK was as prepared for deployment as any warship could be. With her armament, machinery, and equipment fully operational, KIRK was “C-1 and M-1″ – 100 percent functioning and “mission ready”. KIRK was eager to pull her weight in the Seventh Fleet, but what began as a “normal” deployment soon changed dramatically.

War was still raging in Vietnam, but it was no longer KIRK’s war, as American combat forces were long gone. The war had been “Vietnamized” a few years previously, but now the news was dire. North Vietnamese forces were making swift progress as they pushed south, overrunning cities, towns, and villages, pummeling South Vietnamese forces seemingly at will. There was growing panic in the south. The long, costly Vietnam War was coming to a tragic end. One question remained: when would Saigon fall? Preparing for that inevitable outcome, American forces were gathering once again in the South China Sea and a complex operation was beginning to unfold: the evacuation of the remaining Americans from Cambodia and Vietnam, and the rescue of as many foreign nationals and loyal South Vietnamese as possible. Eventually, more than fifty ships of the United States Navy, plus a large number of Military Sealift Command (MSC) and civilian contract vessels took part in the operations, along with aviation units of the Navy, Marine Corps, and Air Force 1.

One facet of this intricate plan sent the venerable attack carrier USS HANCOCK (CV-19) to Hawaii to offload most of her air wing, trading in her Navy fighter and attack aircraft for Marine heavy lift troop carrying helicopters. HANCOCK then barreled at high speed from Pearl Harbor to the Western Pacific to join the growing evacuation group, receiving additional Marine helicopters along the way from USS MIDWAY (CV-43) in a late-night, high speed consolidation exercise in the San Bernardino Strait. KIRK was HANCOCK’s sole escort during that dash to the west. For KIRK’s bridge teams, line handlers and fueling teams, replenishing from HANCOCK at speeds in excess of 20 knots was an adrenaline-pumping break from the routine.

Cambodia fell before Vietnam, and KIRK played her part in “Operation Eagle Pull”, the early-April evacuation of Phnom Penh. It proved to be a quick, orderly extraction of fewer than 300 Americans – hardly a preview of the controlled chaos that awaited her later off the coast of Vietnam 2.

The Cambodia operation behind her, KIRK sailed south with USS COOK (DE-1083) and USS MIDWAY (CV-43) and steamed into Singapore on 16 April for a welcomed visit to that exotic port. But it ended all too soon when liberty was summarily cancelled, the crews abruptly recalled, and the three ships ordered to race back to the north to rejoin the evacuation force off the coast of Vietnam. Something was clearly brewing. During the preceding weeks the North Vietnamese noose had steadily strangled Saigon and Tan Son Nhut Airbase, and now there were virtually no remaining options. Encircled and cut off from the sea, Saigon stubbornly endured a few more days of ever-intensifying shelling by the oncoming NVA and Viet Cong forces 3. But finally, on the morning of 29 April, with Communist forces penetrating the city from all sides, there were no remaining options. It was time to go. American ambassador Graham Martin reluctantly ordered the long-anticipated pullout from Saigon, and “Operation Frequent Wind” was underway.

EXODUS BY AIR AND SEA

During the next two days over 7,000 “official” evacuees were flown from the courtyard of the American Embassy in Saigon, and the Defense Attache’s Office (DAO) compound at Tan Son Nhut Airbase on the outskirts of the city 4. The unmistakable sound of American heavy helicopters thundering in from the sea and across the city signaled to those below that the evacuation was in full swing. All morning long, KIRK patrolled her assigned defensive area off the coast at Vung Tau, near the mouth of the Saigon River, and witnessed the American helicopters cycling in from the sea and back out, delivering their human cargo to the ships beyond the horizon.

With word of the long-anticipated evacuation operation spreading rapidly throughout Saigon, numerous South Vietnamese Air Force (VNAF) helicopters independently took to the air and joined the exodus. Although not part of the formal Frequent Wind “flight plan”, these uncoordinated, impromptu helicopter evacuations grew into a mass escape from land to sea, and were directly responsible for saving thousands of lives. fig1 These ragtag remnants of the South Vietnamese Air Force were on their own, piloting small, grossly overloaded, shot-up, low-on-fuel utility helicopters, ferrying their terrified families and friends into the unknown. These desperate aircrews – flying the ubiquitous “Huey” (UH-1) helicopters – were never considered in the detailed planning of the Frequent Wind operation, and they soon proved to be a complication. Nearing fuel exhaustion, scores of these “unknown” contacts swarmed out to the large American ships on the horizon. The VNAF Hueys frequently disrupted the orderly landing patterns of the waiting aircraft carriers and amphibious ships, as they alighted by the dozens – uninvited – on crowded flight decks. Some, with empty fuel tanks, were forced to ditch in the sea alongside the American ships, with the tragic loss of an unknown number of Vietnamese men, women, and children 5. Intent on reaching the larger flight decks further out to sea, these VNAF pilots overflew the numerous smaller ships stationed in defensive positions close in to shore. USS KIRK – with her small, but open flight deck – was one of those small ships that watched in awe and frustration as the heavily loaded UH-1s flew overhead, out to sea to an uncertain fate.

THE FIRST OF MANY

All morning long KIRK’s Combat Information Center (CIC) transmitted on the air distress frequency that “Ship 1087″ had an open flight deck. Under a broken overcast, with intermittent rain squalls, dozens of Hueys swarmed toward KIRK. But none of the Vietnamese pilots appeared to notice her, repeatedly flying close and low overhead the frigate, but further out to sea. Finally, shortly after noon, after hours of seemingly fruitless broadcasting, one of the VNAF pilots abruptly turned inbound to KIRK. It was a first for KIRK and a first for the Vietnamese pilot, but fortunately for both, KIRK’s young LSE (Landing Signal Enlisted) on the flight deck took it in perfect stride. The LSE – Airman Gerald McClelland – stationed himself in his usual place on deck beneath that unfamiliar helicopter, and guided the UH-1 safely in for its first landing on a rolling U.S. Navy flight deck. Over the next two days KIRK’s LSEs distinguished themselves time and again by safely landing sixteen Vietnamese helicopters without a single mishap, onto a flight deck designed to accommodate just one 6. fig2

Thinking that the first helicopter was a fluke and would be the only one to be taken aboard, KIRK’s flight deck crew dragged and pushed it to the forward port corner of the flight deck to be saved. But in rapid succession, more desperate VNAF helicopters began to circle KIRK. In short order, the second UH-1 was safely aboard (though the drooping rotor blades damaged the tail rotor of the stowed first Huey), and there were still more Vietnamese helicopters waiting their turn on “short final”. The flight deck was large enough to land just one helicopter, so each subsequent Huey had to be jettisoned over the side after the refugees were safely on board. fig3 In this manner, by midnight on the first day, KIRK had recovered twelve UH-1s carrying a total of 157 refugees, more than half of whom were women, children, and babies. And by day three, that total had grown to sixteen UH-1s safely landed onboard, one CH-47 ditched alongside, and one USMC AH-1 Cobra gunship ditched nearby. During those three days, nearly 200 Vietnamese refugees and two U.S. Marine pilots found refuge in KIRK. And in the end, KIRK managed to find room on board to save three Vietnamese UH-1 helicopters that were eventually returned ashore at the U.S. Naval Station, Subic Bay, and one Air America UH-1 that was successfully transferred at sea to USS OKINAWA. fig4

Among all the Hueys on that first day, a crowded Vietnamese CH-47 (a twin-rotor “Chinook”, the heaviest helicopter in the Vietnamese inventory) also attempted to land but was frantically waved off. The aircraft was much too large for KIRK’s flight deck, so the pilot hovered low over the fantail and unloaded his precious cargo of men, women, children, and infants – and his aircrew – into the waiting arms of KIRK crewmen below 7. Then, flying his behemoth helicopter all alone, the pilot moved a short distance off KIRK’s starboard quarter, hovering within inches of the sea. He slowly rolled the Chinook on its right side, escaping the spectacular crash unharmed by diving out the left door in mid-roll. Both main rotors disintegrated on impact, and shattered shards of the blades flew across KIRK, splashing into the sea well to port. The crews of KIRK’s gig and motor whaleboat were standing by and rescued the pilot in short order. There could hardly have been a more masterful bit of flying, or a braver pilot that day. fig5 Ironically, the most complicated aspect of the rescue was the recovery of the half-dozen, or so KIRK crewmen who, on their own, jumped pell-mell into the sea in a well-intentioned, but vain attempt to save the passengers of the ditched Chinook – passengers who were in fact already safely on board KIRK. In a comic touch, the would-be rescuers ran right past the Vietnamese passengers, not noticing them in their single-minded mad dash over the side!

COBRA – THE LAST HELICOPTER OUT OF SAIGON

Later that night, at the beginning of the midwatch, yet another helicopter was observed inbound to KIRK. This one, however, was a U. S. Marine Corps attack helicopter, an AH-1J Cobra gunship that had lingered until the end above the American Embassy compound, providing protection to the evacuation force. fig6 It was out of fuel and unable to reach USS OKINAWA (LPH-3) far out on the horizon. Making a one-shot attempt to set down on KIRK – the only lights visible for miles around – the pilot, Capt. John Bowman, USMC and his copilot/gunner, 1st Lt. David Androscot – saw that the flight deck was “fouled” (the last Huey to touch down on KIRK was still on deck) 8. With both engines flaming out, the Marine pilots had no choice but to wave off, turn away, and auto-rotate into the sea about a half-mile from KIRK. The touchdown – dimly illuminated by KIRK’s signal lights – was observed by many of KIRK’s crew, who witnessed a superb demonstration of airmanship under the most extreme conditions. The motor whaleboat crew – with rescue swimmer AWAN Mike Washington on board – quickly retrieved the Cobra crew, none the worse for wear. They were flown back to OKINAWA the following afternoon by KIRK’s LAMPS pilots, LT Rick Sautter and LTjg Scott Steele aboard the blue and silver Air America Huey – ironically, the same helicopter that fouled KIRK’s flight deck the night before, leaving Capt. Bowman no choice but to ditch his heavily armed aircraft. (Their grateful squadron mates on OKINAWA – the Marines of HMH-462 – ransomed their returning comrades with the princely sum of five gallons of strawberry ice cream!) fig7

The morning of the second day brought a heavy downpour as the 157 refugees rescued the previous day were transferred by boat to one of the large American freighters that had gathered in a holding area about twenty miles off the coast. It was an emotion-charged parting that deeply affected KIRK’s crew, but drew loud cheers and applause from the grateful refugees as their boat pulled away in the torrential rain. KIRK was once again “civilian-free” and ready for action. But not for long. fig8

Shortly, two more Vietnamese Hueys, laden with refugees and low on fuel, bore in on KIRK and landed on her flight deck, like the twelve others the day before. By now it was routine. But these refugees were quickly transferred to the larger ships nearby, and KIRK sped back to the coast to an almost-surreal sight: hundreds of boats of all sorts were swarming out from the beach, going as fast as their small engines would carry them. Many were precariously loaded to the gunwales with refugees. They gathered around each of the large American ships in the holding area, impatiently waiting their turn to offload their terrified refugees. fig9

The sky was now eerily empty. The evacuation continued unabated, but now it was primarily water-borne, and there was no longer a pressing need for KIRK’s well-worn flight deck 9. So KIRK reverted to her original role of force protection, patrolling her assigned sector. But the anticipated air attack on the evacuation force never materialized. (One brief threat, an unknown, fast moving, closing air contact, was eventually evaluated “friendly” – a U.S. Navy A-7 jet with malfunctioning electronics. But this was a milestone for KIRK – the first time in her short life to go to genuine battle stations – “General Quarters” spurred on by the ominous phrase “this is not a drill”.)

As the afternoon wore on, KIRK’s Captain, Commander Paul H. Jacobs decided to save another Huey – the last to land was still sitting on deck – rather than jettison it like most of the others. But this one would find its new home not on the flight deck, but below and aft on the cramped fantail of KIRK. It would be a tight fit – the designers of the DE-1052 class ships never anticipated landing a helicopter in that tiny space – but after careful calculations and measurements, all agreed it would work. (Fortunately, KIRK was one of the few ships of the class that did not have the bulky box of the “Basic Point Defense” missile launcher installed on the fantail, as most others had.) After confirming the clearances to the overhanging flight deck, KIRK’s LAMPS pilots strapped in, lifted off, and gingerly set the veteran Huey down on the fantail, where the aircraft remained until it was offloaded by crane days later in Subic Bay. fig10

FINAL RENDEZVOUS OF THE NAVY OF THE REPUBLIC OF VIETNAM

Late in the afternoon of the second day, KIRK received orders to rendezvous with USS BLUE RIDGE (LCC-19), flagship of the U.S. Seventh Fleet for a boat transfer of “an important person”. That VIP turned out to be Richard L. Armitage, emissary of the Department of Defense (and a future Deputy Secretary of State). He had been working in Vietnam for some time planning the extraction of as many South Vietnamese Navy ships as possible. It was KIRK’s new mission to deliver Mr. Armitage to the Vietnamese Navy CNO’s flagship (HQ-03) off Con Son Island, east of the southern tip of Vietnam, early the next morning.

At dawn on the first day of May, KIRK was greeted by the somber sight of the remnants of the Vietnamese Navy: scores of boats and ships of all sizes and descriptions, either anchored, drifting, or slowly steaming in the vicinity of Con Son Island. Some were empty and had been abandoned in the previous days, but thirty-two ships that were determined seaworthy for open-ocean transit were overloaded with refugees. fig11 Aboard those ships were more than thirty thousand Vietnamese men, women, and children, and the entire fleet was well within striking range of North Vietnamese MIGs that were suspected to be operating freely out of the captured Tan Son Nhut airfield. Mr. Armitage’s monumental task was to quickly move those vulnerable ships and their precious human cargo out of harm’s way and east to the Philippines. And KIRK was detailed to lend a hand. This challenging undertaking became part of “Operation New Life”, the massive movement of Vietnamese refugees to the Philippines, then on to Guam, and eventually on to the United States.

While Mr. Armitage worked to bring order to the milling Vietnamese ships, KIRK was busy picking up additional refugees from two civilian boats found drifting at sea, distributing food, water, and medical supplies to the anchored ships and gathering up a number of “unofficial” American citizens found among the Vietnamese refugees. A major undertaking was the assistance given to the Vietnamese ship RVNS LAM GIANG (HQ-402), an ex-USN LSM (Landing Ship, Medium). This small ship had barely escaped the previous afternoon from the dockyard in Saigon, with thousands of refugees aboard 10. It had been harassed by communist fire during its slow, harrowing escape to sea down the Saigon River. Limping along on just one engine and one failing electrical generator, its steering gear and bow doors damaged, HQ-402 was in immediate danger of sinking. With KIRK standing by with lifeboats, swimmers, and medical personnel, a larger Vietnamese ship was brought alongside the sinking HQ-402, and all the refugees transferred by jury-rigged planks to the larger ship. The severely damaged HQ-402 soon sank. KIRK then went alongside the larger Vietnamese ship to transfer water, food, and medical supplies for the terrified refugees 11. fig12

That afternoon, a VNAF pilot flew his UH-1 aboard KIRK from one of the Vietnamese LSTs in the formation, where it had landed days before. Aboard the Huey were four VNN SEALs (members of the Vietnamese SEa, Air, and Land special operations team) intent on ferreting out food and medications for the thousands of refugees aboard their LST. While the SEALs were below decks gathering their supplies, KIRK’s flight deck crew set about refueling the helicopter. Almost immediately, though, fuel began pouring from bullet holes in the Huey’s fuel tank. It had been so damaged by small arms fire that the fueling crew immediately jettisoned the helicopter over the side – as so many others had been “deep-sixed” just hours before. Unfortunately, neither the VNAF pilot nor the VNN SEALs were consulted in the decision to push the Huey over the side. When they returned to the flight deck, heavily laden with food and medical supplies and ready to fly back to the LST, the SEALs found to their chagrin that their helicopter was slowly sinking a half-mile astern in the wake of KIRK. The disgruntled Vietnamese pilot and his SEAL passengers returned to their LST by boat. That was Huey number fifteen. fig13

Later that same afternoon, KIRK’s LAMPS pilots were sent by boat to recover the sixteenth UH-1 from another VNN LST. It had been sitting on deck, open and full of fuel, in the midst of over three thousand refugees, an imminent hazard to the women and children huddled beneath it. Clearing the area as much as possible, KIRK’s LAMPS pilots started the engine, gently lifted the Huey off the overcrowded LST to the applause of thousands of refugees, and flew the UH-1 back to KIRK, where it also remained until offloaded by crane in Subic Bay.

RESCUE AND ASSISTANCE – A FREIGHTER ADRIFT

Late that same day, a drifting civilian Vietnamese coastal freighter, the TAN NAM VIET, hailed KIRK and requested immediate assistance, claiming to be out of fuel and slowly sinking. This ship had also escaped from Saigon, taking at least two B-40 rocket-propelled grenade hits from North Vietnamese forces on the banks of the river. fig14 She had over 600 refugees crowded aboard, and had hurriedly gotten underway without a qualified engineer on board 12. When her engine eventually ran out of fuel, she came to a stop, as no one knew how to transfer her reserve fuel. Slowly rising water in the engine room brought on fears of sinking, but the bilges could easily have been pumped had anyone simply known how to do it. KIRK’s engineers – led by her intrepid Main Propulsion Assistant, LT John S. Pine and Chief Boiler Technician Wallace L. Michaelson – boarded the ship, and in spite of a significant language barrier (none of the Vietnamese crew spoke English, technical manuals were in Japanese, and instruction plates were in Vietnamese), they went to work in the engine room. Just before midnight, they succeeded in starting the freighter’s huge main engine. At the time, the main deck was covered with sleeping women, children, babies, and mothers nursing their infants. The peace and quiet was abruptly shattered with the roar and rumble of the main engine coming to life. KIRK’s young engineers had mixed emotions. Their success had awakened the sleeping babies, who were now – in unison – crying their eyes out. But the main engine was running again, and the ship was alive once more. When the engine had warmed it was quickly secured and the babies thankfully drifted back to sleep. TAN NAM VIET, too, drifted quietly in the holding area the remainder of the night.

Most of Friday, 2 May was spent patrolling the holding area, transferring food, water, medicine, and supplies, and after a number of false starts, finally shepherding a reluctant TAN NAM VIET on her way east toward the Philippines. Many hours later, KIRK was at long last detached from the holding area and steamed off to rejoin the full formation of the Vietnamese Navy, which was moving slowly east under the escort of USS COOK (DE-1083). But TAN NAM VIET soon blocked KIRK’s path once again. The freighter was lying dead in the water on the horizon. And once again KIRK’s engineers returned aboard for additional engineering repairs – including rebuilding one cylinder of the massive main propulsion engine. KIRK’s Executive Officer, LCDR Richard B. McKenna, accompanied by Chief Hospital Corpsman Stephen Burwinkel and supply personnel, who held sick call and distributed food and supplies to the refugees, joined the engineers and the entire contingent remained aboard TAN NAM VIET overnight and throughout the next day. fig15

THE FIRST – AND LAST – OPEN OCEAN TRANSIT OF A VIETNAMESE NAVY FLEET

Finally catching up to the formation again on 3 May, KIRK immediately went alongside the Vietnamese flagship, RVNS TRAN NHAT DUAT (HQ-03) to render engineering assistance in repairing her diesel generators, and in transferring 4,000 gallons of fresh water 13. KIRK’s crew was well used to going alongside another ship at sea, having refueled, rearmed, and reprovisioned numerous times. It was part of the routine for a warship at sea. But this time it was a full six-line moor alongside a drifting Vietnamese destroyer escort, not a highly choreographed underway replenishment. With Captain Jacobs at the conn, KIRK slid smoothly alongside HQ-03, and the line handling teams of both ships – Vietnamese sailors and American bluejackets – worked as one to snug the two ships together. fig16 KIRK and HQ-03 remained moored together for only a few hours, and when the last line slipped overboard on getting underway, some saw it as a larger, poignant symbol of the final parting of two old friends and allies.

Many hours later TAN NAM VIET, once again under her own power caught up with the formation, and KIRK’s exhausted – but successful – engineers, medical, communications, and supply personnel finally returned from both TAN NAM VIET and HQ-03. fig17

While alongside HQ-03, a Vietnamese sailor was brought aboard KIRK with a badly fractured leg. His injury required urgent transfer to a ship with a proper operating facility, but KIRK’s own helicopter – an SH-2F LAMPS – was “hard down” in the hangar. So while KIRK’s hospital corpsmen readied the patient for transfer, KIRK’s Air Department set about preparing one of the Vietnamese helicopters for one more mission. This helicopter was the very first to land, and had been pushed to the side of the flight deck. It was a virtually new aircraft and in excellent condition, except for the damaged tail rotor (clipped by the second Huey to land). In just a few hours, KIRK’s Air Department had it flying again with a transplanted tail assembly cannibalized from one of the UH-1s that was later jettisoned. With KIRK’s LAMPS pilots at the controls of this olive green “Phoenix”, the patient was successfully flown some distance to USS MOBILE (LKA-115) for treatment. fig18

Under the command of Commander, Destroyer Squadron 23 (Commodore Donald “Pete” Roane, embarked in KIRK), USS KIRK and USS COOK, USS TUSCALOOSA (LST-1187), USS DELIVER (ARS-23), USS ABNAKI (ATF-96), and USNS LIPAN (T-ATF-85) formed the immediate escort and support force for the remnants of the Vietnamese Navy. fig19 Other ships of the Seventh Fleet – including USS MOBILE (LKA-115), USS BARBOUR COUNTY (LST-1195), USS VEGA (AF-59), and USS DENVER (LPD-9) – though not part of the immediate escorting force, provided vital medical and logistical support throughout the remainder of the transit to Subic. The combined USN/VNN “fleet”, now nearly forty ships strong, then settled down to a slow, eastward transit toward the Philippines. The formation was a simple one: two parallel columns, each with sixteen refugee-laden Vietnamese ships stretching back over five miles, with the American ships maneuvering around and within the formation providing engineering, medical, and logistical support. fig20 Fortunately, the Pacific Ocean lived up to its name, as the transit was extraordinarily calm and peaceful. Few of the thirty thousand refugees had ever experienced the open ocean, but for the most part they were thankfully spared the misery of mal de mer. fig21

A NEW GENERATION OF AMERICANS

Assistance teams from the U.S. Navy ships conducted systematic daily visits to each refugee ship, tending to the many serious engineering problems of the Vietnamese ships, and also ministering to the health and nutritional needs of tens of thousands of refugees. A number of pregnant women were eventually discovered in the teeming crowds, and the decision was made to consolidate these at-risk women – along with their extended families – aboard KIRK, where a compartment was quickly converted into a makeshift maternity ward 14. Volunteers from KIRK’s crew were assigned to tend to the needs of these women and their families around the clock. These young sailors, such as Don Cox from the Air department, and Todd Thedell of the Operations Department, performed their unusual “non-military” duties in a truly outstanding fashion. Eventually, over a period of two days, a total of five expectant mothers – two nearing full term – were resettled aboard KIRK. The first of these young mothers-to-be was Nguyen Thi Tuong-Lan Tran who was brought on board on 3 May. Her husband, a pilot in the Vietnamese Air Force, had been left behind in Vietnam. Lan Tran was in the final month of her pregnancy, and had endured weeks of turmoil and privation prior to her escape aboard the Vietnamese ship RVNS LY THUONG KIET (HQ-16). She was in poor physical shape when she and her elderly mother were transferred to KIRK, but once aboard she improved markedly, and gave birth to a beautiful little girl three weeks later in the refugee camp in Guam. Lan Tran was so appreciative of the care provided by the crew of KIRK, that she formally named her little girl Tran-Nguyen KIRK Giang-Tien 15. fig22

By the following day, 4 May 1975, four more pregnant women had been located and transferred, with their families, to KIRK. One of the four, Nguyen Thi An, was also nearing full term, and had to endure two transfers at sea: first, from the ill-fated HQ-402, when she and her small family hastily abandoned that sinking ship across the makeshift planks, and then again when she was discovered in the crowd and transferred by small boat to KIRK. Nguyen Thi An also gave birth to a beautiful baby girl at the refugee camp in Guam three weeks later, naming her Rose Ann Vien Phuong Pham. fig23 As this article “goes to press”, another of the five then-pregnant women has been identified, and attempts are being made to contact her – and her child.

On that same day, 4 May, two seriously ill infants – one with pneumonia – were brought aboard; seven tons of rice were loaded by hand in twenty minutes through KIRK’s sonar access door in her stern; and throughout the day, medical supplies, food, and water were continually transferred by KIRK’s two small boats to Vietnamese ships in the formation. It was a routine day for more than thirty thousand refugees in the South China Sea. It was a routine day for KIRK. fig24

Even though the incidence of seasickness was relatively light (except in the “maternity ward”), the close, primitive, unsanitary conditions that prevailed in virtually all the refugee ships fostered widespread gastric problems, including dysentery and diarrhea. With so large a patient population, and the rapid depletion of the medical stores of the escorting American ships, large quantities of critical medications were flown out from Clark Air Force Base aboard a USAF EC-130. The Hercules skimmed low over the waves and airdropped sealed 55-gallon drums of medical supplies from its stern ramp into the sea alongside KIRK’s waiting motor whaleboat. fig25

Throughout the day on 5 May, a total of more than sixty U.S. Navy personnel were transferred in pairs to each Vietnamese ship to act as “liaison” personnel and to assist the Vietnamese crews in preparing their ships and refugees for entering port. fig26 These officers and men came from all the U.S. Navy ships in the formation, with KIRK supplying thirty-nine men on nineteen different VNN ships. They remained aboard their assigned ships until finally walking ashore in Subic Bay 16. fig27

Tuesday, 6 May was supposed to have been the day the refugee formation entered Subic Bay, and more than thirty thousand excited men, women, and children awoke to the day with great anticipation. But bureaucratic and political problems required the refugee fleet to delay entry into Philippine waters for a full day. This presented a serious dilemma to the fleet. Stopping nearly forty ships in mid-ocean for any length of time would bring chaos, and the thousands of refugees would surely misinterpret an abrupt “about face” so near to freedom. Were they heading back to Vietnam? Would their hopes now be dashed? Were they to be repatriated to their dreaded communist enemies? How could the senior officers in charge of this vast formation get reassuring word out in sufficient time to avoid massive unrest – even rioting – aboard these ships 17?

The solution was simple. Instead of a crisp, seamanlike “right standard rudder”, the formation instead gradually slowed and began an irregular series of small course changes that eventually covered many square miles of the Pacific Ocean. The meandering, slow motion turn took many hours to complete one full circle, and the frustrating delaying tactic was successfully accomplished without alarming a single refugee. But for the young sailors in KIRK, accustomed to the smart, agile maneuvering of their 35,000 horsepower destroyer escort, it was pure professional agony!

One condition of entry into Philippine waters was that all of the Vietnamese ships and all refugees aboard those ships had to be totally disarmed. This monumental task was accomplished throughout the rest of the day by small boats from all the American escorts, hour after hour, collecting literally thousands of small arms from all the Vietnamese ships. fig28 In the case of the ships themselves, all magazines and ready service lockers were stripped of their 20mm, 40mm, 81mm, 3-inch, and 5-inch ammunition, which was then jettisoned overboard, and all heavy guns and launchers installed in the ships were disassembled, and their operating mechanisms dropped over the side in deep water. It turned out to be a long, busy, grueling day for all hands, disposing of many tons of ammunition and ordnance under the watchful eyes of U.S. Navy personnel. fig29

With the morning of 7 May came word that the government of the Philippines had finally cleared the formation to enter Subic Bay, so at precisely 1200 noon, the crews of each Vietnamese ship fell in at formation to witness the solemn ceremony that passed command of their ship to the senior U.S. Navy liaison officer onboard 18. Striking the red and gold flag of the Republic of Vietnam, and raising the Stars and Stripes returned these thirty-two ships temporarily to the list of the United States Navy, a precondition for their entry into the territorial waters of the Republic of the Philippines. fig30 It was a difficult moment for the exhausted Vietnamese officers and men standing at attention in the brilliant sun. The Navy of the Republic of Vietnam was no more. fig31

Later that afternoon, those thirty-two proud ships, with the Stars and Stripes now snapping from their masts, sailed in precise formation into the deep protected harbor of Subic Bay. And thirty thousand brave Vietnamese people finally breathed free. fig32

NOTES:

General Note: With few exceptions, this story is a first-hand account, told by the officers and men of USS KIRK (DE-1087), and some of the Vietnamese refugees rescued during Operation Frequent Wind. The structure and timeline of the account is based on three primary source documents dating from the Spring of 1975: 1) the USS KIRK (DE-1087) official “Ship’s Deck Logs” covering the months of April and May 1975; 2) the USS KIRK “Familygram”, a 16-page detailed chronology compiled in mid-May 1975, less than a week after the end of Operations Frequent Wind and New Life; and 3) the transcript of nearly two hours of voice recordings taped at intervals throughout the operation by a member of KIRK’s crew, describing the hour-by-hour events of KIRK’s participation in Operations Frequent Wind and New Life. These three “period” sources are augmented by many detailed personal memoirs of KIRK crewmen and former Vietnamese refugees, compiled thirty years later, as part of an ongoing project to write the history of USS KIRK (DE/FF-1087).

1. For an excellent detailed discussion of the immediate events leading to the fall of Saigon, see Chapter 5 of By Sea, Air, and Land: An Illustrated History of the U.S. Navy and the War in Southeast Asia by Edward J. Marolda ***(http://www.history.navy.mil/seairland/index.html), Department of the Navy — Naval Historical Center, Washington DC.

2. Walter J. Boyne, “The Fall of Saigon”, Air Force Magazine, April 2000.

3. Early in the evening of 28 April, KIRK’s Executive Officer, LCDR Dick McKenna was sitting at his desk penning the next day’s Plan of the Day – a plan that was shortly to be “overtaken by events”. He was interrupted when the Officer of the Deck (OOD) called down with an excited, “XO, you’ve got to come up and see this!” As McKenna recalls, “When I got to the bridge, the watch, plus a goodly number of the sailors that had come topside were watching the sky in awe.” He remembers it as “…the most memorable show of lightning that I have ever seen.” Others remember the same extraordinary display as the reflection of the intense artillery, rocket, and mortar barrage illuminating the cloud formations over the coast. Whether the awesome spectacle was a fluke of nature or simply the deadly work of man, all who witnessed it agreed it was, in LCDR McKenna’s words, “the most ominous and foreboding display”.

4. Walter J. Boyne, “The Fall of Saigon,” Air Force Magazine, April 2000.

5. In one memorable incident, a VNAF O-1 “Birddog” fixed-wing aircraft – the military version of a small single-engine Cessna – landed aboard USS MIDWAY, safely delivering the pilot, his wife, and five children in his first and only carrier landing. Fortunately, the fragile airplane was retained on board MIDWAY, and is now on prominent display at the Museum of Naval Aviation, in Pensacola, Florida.

6. Gary I. Cassat, LT, USN, “Impossible?” Fathom Magazine, Summer, 1976.

7. OS3 Peter Burinskas, MMFN Kent Chipman, and OSSN John Sullivan were three of the KIRK volunteers waiting in the rotor downwash on the fantail just below the hovering Chinook. All three caught falling infants and children, describing the sensation as “catching basketballs”.

8. Captain Bowman went on to a full career as a Marine pilot, retiring as a Lieutenant Colonel. Tragically, 1st Lt. Androscot lost his life in a training accident a few years after his heroic actions over Saigon.

9. KIRK’s normally robust flight deck – well-capable of handling helicopters equipped with wheeled landing gear – proved to be no match for the wheel-less landing skids of the many UH-1s. To reposition the Hueys or to move them to the edge of the flight deck for jettisoning, as many as twenty-five KIRK crewmen had to drag, bounce, and physically shove each three-ton helicopter across the non-skid deck, severely damaging the high-tech abrasive coating and deck-edge coaming.

10. Estimates of the number of refugees embarked – either total “fleet” figures or in individual ships – vary widely. As an example, eyewitness estimates from Vietnamese refugees aboard the ill-fated HQ-402 placed the total at “4,000″ or “5,000″. These figures for HQ-402 are clearly exaggerated, considering the small size of the ship – barely 200 feet long, less than half the length of KIRK – although “thousands” is probably a supportable rough estimate. Contemporary estimates – both official and unofficial – of the total number of refugees distributed throughout the 32 ships of the formation varied from 18,000 up to 35,000. Lower numbers were quoted officially at the time of the evacuation, presumably while the U.S. State department was negotiating with the Philippine government for permission to land the large numbers of now-stateless refugees. It is now accepted that the actual numbers were in excess of thirty thousand refugees distributed among the 32 ships. Considering the chaotic nature of the immediate evacuation effort, and the political sensitivities involved, such inaccuracies (unintentional or deliberate) were perhaps inevitable, but accurate census figures are probably available today in the archives that record the initial refugee settlement efforts on Grande Island, in Subic Bay.

11. The frantic scramble of thousands of panicking refugees from the sinking HQ-402 caused two disturbing deaths. A surge of Vietnamese quickly engulfed the rickety planks laid between the two ships. In the crush, a small child was pushed off a plank and fell to her death between the two ships. The panic of the crowd was quickly escalating to hysteria. Then in a jarring display of “justice swift and sure”, a Vietnamese sailor drew his pistol and shot the young man who had shoved the child overboard. Calm was restored, and the transfer of the refugees was completed in stunned silence.

12. TAN NAM VIET briefly captured the news a few weeks later when it was rumored that the otherwise unremarkable coastal freighter was carrying the bulk of the national treasury of South Vietnam. It was a time of many such rumors – few with any foundation.

13. Four thousand gallons of fresh water was about 40 percent of KIRK’s design total capacity, but after the hectic pace of activities in the previous days, potable water stores were ebbing, and 4,000 gallons was the bulk of the fresh water remaining aboard KIRK. But HQ-03 and her thousands of Vietnamese refugee men, women, and children clearly had a pressing need for all the water they could get. So fresh water hoses were run across to HQ-03. It was only after pumping 4,000 gallons of the precious liquid into the tanks of HQ-03 that KIRK’s engineers discovered that HQ-03 always had plenty of water, but her fresh water pump was out of commission. Something had been lost in translation, and this “failure to communicate” meant that KIRK went on “water hours” for an extended period to allow her excellent – but hard working – evaporators to catch up.

14. The rationale for consolidating these at-risk pregnant women aboard KIRK has been lost in the mist of time, but it turned out to be an extraordinarily good decision. Chief Hospital Corpsman Burwinkel was not only an independent duty corpsman, responsible for the health and welfare of more than 250 KIRK men, but he had coincidentally served a previous tour in the maternity ward of a large Naval Hospital. His pregnant charges were in good hands.

15. Lan Tran and her KIRK volunteer Don Cox have been reunited after more than thirty years, and have become fast friends.

16. The experiences of these men could fill volumes. Coming from the cleanliness, order, and predictability of a U.S. Navy warship, few of these KIRK men were prepared to witness the overcrowded squalor that these patient refugees were enduring. Following are the KIRK “shipriders” and their assigned Vietnamese ships:

Hull #    Ship Name         KIRK crew shipriders
HQ-01     Tran Hung Dao     FTG3 W. S. Johnson and BTFA G. W. Malone
HQ-03     Tran Nhat Duat    Mr. Richard L. Armitage
HQ-06     Tran Quoc Toan    RMC L. Gassaway, ST1 T. A. Sievert, and Lucero
HQ-07     Dong Da II        GMT1 T. J. Dixon and HT3 S. N. Hanenkrat
HQ-11     Chi Linh          LT(jg) John S. Pine and BTFN R. J. Lalonde
HQ-12     Ngoc Hoi          LT(jg) Scott J. Olin and SN G. E. Harrison
HQ-14     Van Kiep II       LT(jg) Donald A. Swain and SA C. Richardson
HQ-16     Ly Thoung Kiet    LT Frederick R. Sautter and ADJ2 R. G. Fisher
HQ-228    Doan Ngoc Tang    GMGC H. M. Dilulo and TN3 F. L. Soderburg
HQ-229    Lu Phu Tho        ADJC G. C. Bingham and STG3 E. W. Kirk
HQ-231    Nguyen Duc Bong   SM1 H. W. Kenway and GMG3 J. R. Sanders
HQ-401    Han Giang         LT(jg) Scott L. Steele and BTFN J. D. Scarrow
HQ-402    Lam Giang         (Sunk)
HQ-404    Huong Giang       ENS Bruce B. Davidson and OS2 T. D. Schultz
HQ-470    (unknown)         IC2 T. A. Powell and EW2 P. E. Lawless
HQ-502    Thi Nai           LT(jg) A. E. Porter and SA D. R. Carney
HQ-505    (unknown)         LT L. E. Arcuri and ETR2 A. P. Gozdan
HQ-800    Huynh Van Cu      ENS Robert A. Pennell and OS3 P. J. Burinskas
PGG-18    (unknown)         EWC J. F. Willoughby and STG2 J. R. Wimbrow
Fishing Trawler #1          BTC J. D. Gornto and SA R. Bankston
Fishing Trawler #2          OSC D. T. Burlison and GMG3 G. N. Sanvig

 

 

 

Chuyện lá cờ VNCH trên tàu USS Kirk

Hà Giang/Người Việt Online Magazine

 

Trước lễ hạ cờ, các quân nhân trong binh chủng Hải Quân VNCH chạy hết lên boong tầu, đứng nghiêm làm lễ chào quốc kỳ và hát quốc ca Việt Nam, vừa nghẹn ngào khóc nh́n lá cờ màu vàng ba sọc đỏ thân yêu, mà đến trước đó một tuần, họ sẵn sàng hy sinh cả mạng sống để bảo vệ, từ từ hạ xuống.

Xong lễ hạ cờ, con tầu lặng yên, không một tiếng động.

Đó là một cảnh trong cuốn phim tài liệu “The Lucky Few - The Story of USS Kirk” (Những Người May Mắn - Câu chuyện của USS Kirk) do Hải Quân Hoa Kỳ thực hiện vào cuối năm 2010, kể lại chuyện chiếc tầu USS Kirk và thủy thủ đoàn 260 người giải cứu đoàn tầu Hải Quân VNCH và khoảng 30,000 người tị nạn “may mắn” vào ngày 30 Tháng Tư, 1975.

Đó cũng chỉ là một cảnh tiêu biểu. Trên thực tế cả 30 chiếc tàu của Hải Quân VNCH đều cùng làm nghi lễ hạ cờ quốc gia và kéo cao quốc kỳ Mỹ, một điều kiện cần có để Philippines cho phép đoàn tầu vào Subic Bay.

Ở một cảnh khác, vị cựu đại tá Hải Quân VNCH kiêm tham mưu phó hành quân Đỗ Kiểm ngồi trước một lá cờ mầu vàng ba sọc đỏ lớn, mắt đỏ hoe, kể lại biến cố lịch sử đó trong cuộc đời quân ngũ của ḿnh:

“Hàng ngàn và hàng ngàn người trên thuyền bắt đầu hát quốc ca (VNCH). Khi lá cờ hạ xuống, họ đă khóc, khóc và khóc.”

Nói xong, ông chỉ vào lá cờ vàng ba sọc đỏ phía sau lưng, mắt đỏ hơn:  “Chính là lá cờ này!”

Rồi ông nói thêm: “Đây là lá cờ đă được hạ xuống. Tôi vẫn ǵn giữ cờ từ ngày hôm đó đến nay.”

“Từ đó đến nay” đă gần 36 năm. Chuyện xẩy ra vào ngày 6 Tháng Năm, 1975, gần một tuần lễ sau ngày Sài G̣n thất thủ.

Không hiểu tại sao măi hơn 35 năm sau, câu chuyện của USS Kirk mới được kể lại bằng cuốn phim tài liệu. Chỉ biết trong dịp 30 Tháng Tư năm nay, nhật báo Người Việt và Little Saigon TV hănh diện đồng bảo trợ, và tiếp tay chi hội Tây Nam của Ủy Hội Liên Bang Mỹ-Á Thái B́nh Dương (Federal Asian Pacific American Council Southwest) trong việc quảng bá cuốn phim tài liệu lịch sử này.

Tin tức về cuốn phim được phổ biến trên trang blog của USS Kirk và Hải Quân Hoa Kỳ. Cuốn phim lịch sử dài một tiếng trong đó các nhân chứng sống có liên hệ trực tiếp, hiện giờ đang ở khắp nơi, và nguyên tác bằng tiếng Anh, cũng đă được chia làm nhiều đoạn và tải lên You Tube.

Cuốn phim kể lại sự xoay sở rất tháo vát của thủ thủy đoàn USS Kirk khi bất ngờ phải thực hiện một sứ mệnh nhân đạo, nhưng rất nguy hiểm, làm nhiều người xúc động.

Một người Mỹ gốc Việt kư tên là Matthew Lê, đă để lại lời b́nh trên blog của USS Kirk:

“Nhận được cái You Tube link về The Lucky Few do người bạn gửi cho bằng email lúc sắp phải ra xe. Nóng ḷng nên tôi bật lên, và v́ đang lái xe chỉ nghe được âm thanh. Chỉ âm thanh thôi cũng làm tôi khóc v́ xúc động, và phải vào một băi đậu xe nghỉ một lúc. Thương Việt Nam bao nhiêu th́ quư và nhớ ơn Hải Quân Hoa Kỳ bấy nhiêu. ( Vào You Tube phần search đánh chữ lucky few sẽ đưa bạn vào video clip )

Cuốn phim đă được Ủy Hội Liên Bang Mỹ-Á Thái B́nh Dương chuyển ngữ ra tiếng Việt, và sẽ được tŕnh chiếu vào đúng ngày 30 Tháng Tư năm nay.

Bà Sharon Nicholas, người Mỹ gốc Việt, tên Việt Nam là Trang Uyên Nguyễn, giám đốc điều hành của Ủy Hội Liên Bang Mỹ-Á Thái B́nh Dương, chi hội Tây Nam, là người trực tiếp chịu trách nhiệm cho việc tŕnh chiếu cuốn phim, cho nhật báo Người Việt biết phim sẽ được tŕnh chiếu trong một chương tŕnh vào lúc 3 giờ chiều Thứ Bẩy, 30 Tháng Tư, Garden Grove High School Auditorium, Garden Grove.

 

 

VÀI BÚT KƯ HQ - THÁNG TƯ BUỒN

 

MẢNG ĐỜI TỴ NẠN

Mẹ sinh tôi ra vào năm Giáp Thân, 1944, nhưng sau này làm lại giấy Thế V́ Khai Sinh th́ rút xuống hai năm cho đủ tuổi để xin được vào học trường Chasseloup Laubat ( và đă trở thành trường Lê Quư Đôn sau này). Sau khi đỗ Tú Tài hai ban B, tôi nhẩy vào làm cho “sở Mỹ” nhờ biết tí tiếng Pháp và tiếng Anh kha khá. Đồng thời tôi cũng theo học tại Đại Học Sài G̣n, Văn Khoa, Ban Anh Văn. Cơ quan “Sở Mỹ“ tôi làm trực thuộc Ṭa Đại Sứ (TĐS) Hoa Kỳ tại Sài G̣n, thuộc chương tŕnh Phụng Hoàng.

Tôi xin nói sơ qua về chương tŕnh hay kế hoạch Phụng Hoàng để qúy bạn hiểu thêm:

Như các bạn đă từng biết, sau sự chia cắt đất nước Việt Nam, lấy con sông Bến Hải làm làn phân chia Quốc-Cộng vào năm 1954, Cộng Sản đă để lại ở miền Nam Việt Nam một số lớn cán bộ nằm vùng. Mạng lưới này đă được bổ xung thêm với nhiều cán bộ xâm nhập từ miền Bắc vô vào những năm cuối của thập niên ‘50, và sau nữa. Mạng lưới này là cả một hệ thống hạ tầng cơ sở nằm vùng và ẩn náu trong những vùng rừng núi gồm có cả những đơn vị du kích địa phương, kinh tài, ám sát, liên lạc viên, tuyên truyền ... mà người Mỹ họ gọi là VCI (Việt Cộng Infrastructure). Chúng bám vào trong dân làm vùng sôi đậu, chúng nằm nín hơ hoạt động lén lút nơi tỉnh thành, chúng quấy nhiễu những đơn vị hành chánh, cảnh sát, đắp mô, cài ḿn tạo thành những nơi mất an ninh, chúng khủng bố, ám sát nhân viên chính quyền địa phương nếu có cơ hội ....

Để đối phó lại những vấn nạn nêu trên, chính phủ VNCH đă có những biện pháp như Ấp Chiến Lược, kế hoạch Phụng Hoàng, và sau này là thêm chương tŕnh Xây Dựng Nông Thôn ....

Phụng Hoàng (hay chim Phượng) là một loài chim quư chỉ có trong huyền thoại được dùng để đặt tên cho một chương tŕnh đă được CIA hay Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ đề ra, tổ chức (nhưng dấu tên), huấn luyện, cố vấn, và tài trợ với một ngân khoản khổng lồ. Trên danh nghĩa, chương tŕnh (hay kế hoạch) Phụng Hoàng được trực thuộc Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam, nhưng những hoạt động như phục kích, hay tấn công vào sào huyệt VC có nhiều khi lại do chính quân đội Mỹ đảm trách với những toán SEAL của Hải Quân hay Green Beret của Bộ Binh. Nhiệm vụ của chương tŕnh Phụng Hoàng là “lấy nhân tâm để chống cường bạo”, nhưng chính là để mong phá vỡ những ổ nằm vùng, du kích địa phương, hay kinh tài VC qua những những chương tŕnh như chiêu hồi, tuyên truyền, phục kích, bắt cóc, khai thác t́nh báo, có cả thâm nhập vào mật khu VC và ám sát những cán bộ cao cấp CS nữa.

Như các bạn đă biết, từ năm 1958 cho đến 1968, Cộng Sản chủ trương xây dựng lực lượng bằng cách thâm nhập người và vũ khí từ miền Bắc vào qua các ngả đường từ Lào, Cam Bốt, và bằng đường biển. Đồng thời chúng cũng bành trướng các mật khu, củng cố và tăng cường lực lượng du kích, nằm vùng, kinh tài, khủng bố và ám sát nhân viên chính quyền địa phương.

Đầu năm 1968 chúng mở cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu-Thân sau khi đă có một lực lượng chính quy với những vũ khí tối tân như AK47, B40, B41, xe tăng đủ để đương đầu với quân đội Việt Nam Cộng Ḥa và Đồng Minh trên một b́nh diện chiến tranh trận địa chiến. Đồng thời trên mặt trận tuyên truyền, báo chí, và ngoại giao của chúng trên thế giới, nhất là tại Hoa Kỳ đă đủ chín mùi, và mặt trận chính trị này hiện đang cần một tiếng vang vọng đến từ miền Nam Việt Nam để hỗ trợ cho những lời tuyên truyền của chúng.

Tiếng vang “Tổng Cộng Kích Tết Mậu Thân” này quả thực đă đáp ứng đúng nhu cầu chính trị cần, và quá đủ cho chúng tức thời. Tiếng vang này đă được khuếch đại, và tận dụng tối đa bởi các nhóm phản chiến tại Hoa Kỳ.

Đến năm 1969, chương tŕnh Việt Nam Hóa chiến tranh bắt đầu, th́ kế hoạch Phụng Hoàng cũng đă được Việt Nam hóa, công việc của tôi đâm ra bấp bênh! Có một hôm xem truyền h́nh thấy có một sĩ quan Hải Quân diện đồ trắng lên TV nói chuyện tuyển mộ sinh viên sĩ quan Hải Quân coi bảnh bao quá.

Tôi bắt đầu để ư đến quân chủng này, và càng nh́n thấy những bộ đồ trắng lả lướt nơi bến tàu, trên đường phố Sài G̣n tôi càng đâm ra “mơ” làm người SVSQ Hải Quân.

Tôi t́nh nguyện theo học khóa 20 SVSQ/HQ. Tôi được nhận, tŕnh diện, và được lănh đồ quân trang quân dụng. Tôi đă chính thức trở thành Sinh Viên Sĩ Quan/Hải Quân/Khóa 20 với cấp bậc đầu tiên là “Tân Binh” Nguyễn Hữu Hải, số quân 66A702-430. Tôi gặp và chơi thân ngay với các bạn cùng khóa như Nguyễn Văn Đệ, Nguyễn Xuân Dục, Phan Ngọc Long, Tôn Long Thạnh, Ngô Nguyên Trực ....

Mặc dầu tạm trú tại trại Bạch Đằng II, nhưng tôi ra vào cổng Hải Quân như đi chợ v́ c̣n giữ giấy tờ làm việc tại Ṭa Đại Sứ Mỹ. Ngày ngày chúng tôi la cà lả lướt phố phường, và lo tán gái. Chúng tôi lên Quang Trung tập bắn , tập đi một hai ba bô..ố..ốn, tập leo, tập trèo, tập chà láng, tập đi băi, tập chạy “huỵch huỵch”, và vừa thở hồng hộc vừa ḥ những bản nhạc hùng như “Đường trường xa, con chó nó tha con mèo ...”. Cuối tuần chúng tôi đi bờ, lại la cà, lả lướt, và tán gái tiếp tục.

Ra Nha Trang, trong thời gian bị huấn nhục, tuy mệt mỏi v́ những buổi phạt hành xác, nhưng nhiều khi thấy cũng vui vui v́ những tṛ đùa như con nít. Để tránh bị “quay” tôi cứ theo anh em lẩn vào trong đám đông, “ai sao ḿnh vậy” và đừng có “ư kiến ư c̣ ǵ” là thoát được cái nạn bị “quay như dế“ mà một số bạn đă bị gặp phải.

Thế rồi thời gian bị huấn nhục cũng qua đi, sau lễ gắn Alpha, và chúng ta được “đi bờ“. Sau khi đi ăn uống cho thỏa thích sau những ngày thèm khát, tôi mua một vài thứ lặt vặt cần thiết như sira đánh giầy, dầu nóng thoa bóp hiệu “Bom Solar“(?), kem đánh răng ... tôi ghé nhà một người quen ở gần ga xe lửa. Tôi nhận được một mảnh giấy nhắn tin là có người quen trong Ṭa Lănh Sự Mỹ thuộc Vùng II, ở số 6 đường Duy Tân muốn gặp. Lần đi bờ kế tiếp, tôi ghé Ṭa Lănh Sự Mỹ và người quen muốn gặp tôi chính là ông “Boss” cũ làm trong “Sở Mỹ“ của tôi, Philip C. Ross, mang cấp bậc Đại Tá Green Beret. Ông Philip bảo là: “ Đừng có hỏi là tại sao tôi đă t́m ra được Hải; Tôi đă có lệnh thuyên chuyển về Sài G̣n, tôi muốn bạn đi với tôi về Sài G̣n ngay ngày hôm nay, mọi trở ngại và giấy tờ của Hải tôi sẽ lo liệu hết, đừng có lo chi cả!”

Thế là ngay buổi trưa hôm ấy, chúng tôi theo Air America về thẳng Sài G̣n. Tôi bỏ lại trong quân trường mọi thứ và chẳng kịp báo tin cho ai hết! Về đến Sài G̣n, Philip lấy xe thả tôi về nhà, và dặn tôi lên tŕnh diện ông ấy vào sáng thứ Hai tại Ṭa Đại Sứ Mỹ cũ nằm trên đường Vơ Di Nguy, khu Chợ Cũ Sài G̣n.

Sáng thứ Hai, sau những thủ tục giấy tờ, tôi đă được Philip chở đến một căn nhà nằm trên đường Chi Lăng, Phú Nhuận. Đây là một căn nhà “an toàn” (safe house) của Sứ Quán Mỹ. Nơi đây tôi đă được huấn luyện trong hơn hai tuần về t́nh báo, điệp viên. Huấn luyện viên đa số là người Việt, nhưng chỉ huy bởi những nhân viên “cố vấn” của Ṭa Đại Sứ Mỹ. Trong số những cố vấn này, có người đă từng xâm nhập và hoạt động tại Đông Đức đến hơn 20 năm.

 

Từ năm 1968, kế hoạch Phụng Hoàng được điều hành bởi ông William E. Colby bên phía TĐS Mỹ. Ông này trước kia đă từng hoạt động ở VN hồi năm 1959 trong các chương tŕnh b́nh định nông thôn và Ấp Chiến Lược. Từ năm 68 đến 70 th́ ông ta được “biệt phái” làm “xếp lớn” kế hoạch Phụng Hoàng. Sau này, vào năm 1973, ông ta đă từng nắm toàn quyền cơ quan CIA, và ông ta đă bị chết đuối trong một tai nạn khó tin nhưng có thật vào năm 1996. Ông Colby là “xếp” trực tiếp của Philip, “boss“của tôi.

Sau khi măn khóa về gián điệp này (tôi trở thành “zét không không biết“ như trong truyện gián điệp Z-28 vậy), tôi được bổ về làm “Sỉ Quan Tham Mưu/Quân Khu II”, mang cấp bậc “đại úy đồng hóa”, ăn lương do ngân sách ngoại viện đài thọ, và được Nha Động Viện Bộ Quốc Pḥng cấp cho “giấy tờ hợp lệ t́nh trạng quân dịch“. Tôi chịu trách nhiệm 12 tỉnh của Quân Khu II. Tôi đi nhiều nơi như Quy Nhơn, Phú Yên, Khánh Ḥa ...

Mỗi một tỉnh có một đơn vị Thám Sát Tỉnh, Provincial Reconnaissance Unit (PRU). Mỗi một đơn vị Thám Sát Tỉnh như vậy th́ thường có khoảng 118 nhân viên, gồm có đa số là VC hồi chánh, lính người Nùng, một số nhân viên thuộc CSQG, và được chỉ huy bởi một viên thiếu tá đồng hóa.

Tết năm Mậu Thân, 1968, đa số các cán bộ nằm vùng của VC xuất đầu lộ diện để mong thực hiện “cuộc tổng nổi dậy của nhân dân miền Nam”, hay bị lộ hành tung nằm vùng. Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa và Ṭa Đại Sứ Mỹ nhận thấy sự hữu hiệu của kế hoạch Phụng Hoàng, nên tăng cường và cho khuếch trương chương tŕnh này. Nhưng sau này khi Việt Nam Hóa chiến tranh được bắt đầu th́ chương tŕnh này đă trở lại thành một thứ yếu đối với Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa, và bị cắt giảm tối đa tài khoản từ phía Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ.

 

Sau hai năm làm việc th́ tôi bị “mất việc”. Dùng giấy tờ hợp lệ t́nh trạng quân dịch, tôi nạp đơn thi vào Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia tại Thủ Đức, và tốt nghiệp Khóa 6 CSQG năm 1971. Sau khi tốt nghiệp tôi đă được phục vụ tại Phi Cảng Tân Sơn Nhất, sau đó là Sở Ngoại Kiều cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Những ngày cuối tháng Ba năm 1975, Sài G̣n sôi động hẳn lên, và bị đe dọa với những áp lực nặng nề sau những ngày gẫy đổ của Vùng I và Vùng II. Ban ngày phải làm việc tại Sở Ngoại Kiều, ban đêm th́ chúng tôi phải tŕnh diện Bộ Tư Lệnh/Cảnh Sát Quốc Gia để lănh súng đạn đi ứng chiến. Chỗ tôi hay được cử đi ứng chiến là một trường trung học Tàu trong Chợ Lớn, nằm ở phía sau hăng bia BGI, nơi sản xuất bia 33. Tuy t́nh h́nh nguy ngập đến thế, nhưng mà chúng tôi vẫn c̣n mơ mơ màng màng, chưa tỉnh. Chúng tôi thường chở nhau vào Chợ Lớn ăn nhậu cho tới khuya mới về trường để ứng chiến!

Đến gần cuối tháng Tư năm 75, trong lúc đang làm việc tại Sở Ngoại Kiều, th́ một nhân viện TĐS Mỹ đến gần tôi, ngó quanh khi không thấy ai, th́ nói nhỏ đủ để cho tôi nghe: “chiều nay sau khi đi làm xong, nhớ ghé nhà Trung tá Lạng, có chuyện rất cần!” Ngay chiều hôm đó, tôi đến nhà Trung tá Nguyễn Văn Lạng, cựu CHT/Thám Sát Tỉnh (PRUs). Sau khi được người nhà Tr/tá Lạng kín đáo dẫn lên lầu, tôi đă thấy 7 hay 8 cựu cố vấn TĐS Mỹ ngày nào, có cả ông xếp cũ của tôi là Philip C. Ross nữa. Bill Tucker, một cố vấn cũ, đă vỗ vai tôi mà nói:” Mầy làm ǵ mà cứ làng sàng ra vào cổng Tân Sơn Nhất hoài vậy?” Ông ấy tiếp lời: “Mầy đừng có lo, dù chỉ c̣n một cái trực thăng, tao cũng không bỏ mầy đâu!” Trong buổi nói chuyện, tôi đă được biết là TĐS Mỹ đă cho đốt hết những giấy tờ quan trọng ngay từ tháng Ba, và đang cho di tản những kiều dân Mỹ ra khỏi VN. Ông xếp cũ của tôi nói:” Nếu mày muốn ra đi một ḿnh, th́ tụi tao sẽ đưa mầy ra máy bay ngay; nhưng nếu mầy muốn đem theo những người thân th́ ngày mai hăy đến Đức Hotel, nằm ở trước cửa trường Lê Qúy Đôn, vào hỏi Richard, nó sẽ lo cho mầy.”

Mấy ngày hôm sau, tôi và một anh bạn cũ cũng đă làm cho TĐS Mỹ ghé Đức Hotel để gặp Richard. Chúng tôi được biết là hiện có hai chiếc tàu của Hoa Kỳ đang nằm ngoài khơi Vũng Tàu, ḿnh phải đưa người nhà ḿnh ra ngoài đó và sẽ được di tản bằng tàu. “Hăy về chuẩn bị sẵn sàng, tôi sẽ cho người liên lạc,” Richard hứa với chúng tôi như vậy!

Sài G̣n bắt đầu giới nghiêm từ 8 giờ tối. TĐS Mỹ bắt đầu cho di tản những người Việt làm cho sở Mỹ và thân nhân của họ. Họ đă được chuyên chở bằng xe buưt vào ṭa nhà của cơ quan DAO, đến đêm sẽ được đưa ra khỏi VN bằng máy bay quân sự C-130 và C-141. Trước cổng TĐS Mỹ ở đường Thống Nhất, người ta xếp hàng, chen lấn ngay từ sáng sớm để mang một hy vọng là có một cơ hội rời khỏi VN…

Tôi cũng đă giúp đưa được một vài người bạn SQ/BB từ Phú Bổn, Tuyên Đức chạy về lên máy bay. Khi máy bay đến, nhiều khi chỉ có ba hay bốn chục người chờ để được đưa đi, trong lúc máy bay có thể chứa được ba hay bốn trăm người, cho nên bất kỳ những ai đang hiện diện tại chỗ nếu muốn đi là cứ việc leo lên máy bay là đi, chẳng cần giấy tờ ǵ cả! Tôi không muốn bỏ nhiệm sở trong những lúc đó.

 

Ngày 28 tháng 4 năm 1975, phi đạo Tân Sơn Nhất bị pháo kích và máy bay Mỹ không đáp xuống được nữa! Sáng ngày 29, cuộc di tản của Mỹ được tiếp tục bằng trực thăng. Trước cổng TĐS Mỹ nguời ta chen lấn xô đẩy để cố chen vào phía trong, tôi không thể nào làm như vậy được nên tôi tính vào phi trường TSN xem sao? Nhưng cũng không thể nào chen chân vào được, v́ có cả ngàn người cũng đang bu quanh cổng trại Phi Long! Những người Quân Cảnh quen biết cũ đă được thay thế bởi một Đại Đội QC từ Biên Ḥa về để bảo vệ ṿng đai. Đưa giấy tờ họ không thèm coi, và c̣n xua đuổi ḿnh như đuổi tà vậy!

 

Măi đến quá trưa, th́ tôi đă hết sức hoang mang và quá mệt mỏi, nên về lại nhà ở đường Trương Minh Giảng, tắm rửa và ngủ vùi cho đến đêm. Đêm đến tôi trằn trọc không ngủ được, đâu đó những tiếng súng đ́ đẹt nổ, và tiếng máy bay trực thăng vẫn tiếp tục nổ “phành phạch” trên bầu trời.

Sáng ngày 30, tôi lấy xe Honda chạy một ṿng: Sài G̣n hốt hoảng, Sài G̣n sợ hăi, Sài G̣n như một con chim bị xập bẫy! Nguời ta hoảng sợ, người ta hôi của từ những căn nhà Mỹ mướn bỏ hoang. Lác đác trên đường, một số lính Dù hay biệt kích vẫn gh́m súng sau những gốc cây, ụ cát. Đến gần trưa th́ được nghe lời kêu gọi quân cán chính VNCH hăy bỏ súng đầu hàng của TT Dương Văn Minh! Tối đến tôi lại ṃ về nhà trên đuờng Trương Minh Giảng v́ hoang mang đến tột cùng, và không biết là ḿnh phải làm cái ǵ nữa!

Khoảng năm, sáu giờ sáng sớm ngày hôm sau th́ đă nghe thấy tiếng đập cửa. Vừa mở cửa ra th́, năm sáu tên mang AK47, khăn xanh đỏ đeo ở tay ập vào, và bắt tôi đứng úp mặt vào tường, giơ hai tay lên cho chúng khám xét. Chúng bắt và dẫn tôi ra nhốt ở trụ sở Nhân Dân Tự Vệ cũ ở trong xóm. Chúng không cho tôi đem theo bất kỳ một thứ ǵ hết, kể cả không cho thay bộ đồ ngủ đang mặc trên người! Nhưng bất ngờ một tuần lễ sau, th́ chúng thả tôi ra và bảo “muốn đi đâu th́ đi.” Sau này tôi mới biết là chúng chỉ là những tên nằm vùng, và bọn theo đuôi “30 tháng 4” muốn bắt tôi để “chôm chĩa” của cải vậy thôi.

Sau khi đuợc tha, tôi “ṃ” đến nhà một anh bạn thân trước làm cho hăng máy bay Pacific AirLine. Chúng tôi cùng nhau đi xuống Rạch Giá, với hy vọng là sẽ liên lạc lại được với những người quen trước ở tại khu Cai Sắn.

Đến Rạch Giá, chúng tôi đă t́m ra được một người quen, trước là một thiếu tá Cảnh Sát tại Phan Thiết. Theo lời th́ anh ta đă có mua được một chiếc tàu, và có giấy phép của Ủy Ban Quân Quản VC cho phép tàu đi Phú Quốc để tiếp tế cho đồng bào tỵ nạn từ miền Trung về, hiện đang bị đói ở ngoài ấy. Anh ta bảo chúng tôi hăy mua vé như b́nh thường và dặn là “ḿnh sẽ đổi hướng đi Thái Lan khi trên đường ra Phú Quốc.”

Sau khi đă mua vé đi Phú Quốc xong, chúng tôi xuống tàu khoảng 2 giờ chiều. Tôi thấy rất nhiều người có máu mặt tại Sài G̣n đă ở sẵn trên tàu như vợ chồng chủ hăng giầy Cogimoco, chủ và gia đinh hăng bột ngọt Vi Phong nên cũng thấy yên tâm. Ngồi chờ khoảng hơn một tiếng đồng hồ th́ tàu nổ máy, tháo dây, và khởi hành. Nhưng vừa mới xa bờ có khoảng chừng 100 thước th́ nghe thấy có một vài tiếng súng nổ! Hai bên hông tàu thấy xuất hiện hai chiếc ghe, lố nhố mấy chục tay súng AK. Họ nhẩy qua tàu chúng tôi, bắt mọi người đứng thẳng, giơ tay khỏi đầu và chịu sự khám xét. Chúng lục túi, lục người, và đồ đạc của chúng tôi. Chúng đổ ra sàn tàu cả một đống vàng lá, ṿng vàng, nhẫn vàng, đồng hồ, và cả một lon lớn hột soàn (kim cương). Có một người nhẩy “ùm” xuống nước để mong lẩn tránh, nhưng những cây AK đă thi nhau “nhả“ đạn theo. Không thấy anh ta trồi lên, nhưng máu đỏ nổi lên, loang ra cả một vùng biển. Cho đến giờ phút này mà tôi vẫn chưa quên được cái cảnh hăi hùng đó. Chúng chặt dây thừng trên tàu và trói chặt hai tay chúng tôi về phía sau lưng. Từng nhóm mười người chúng tôi được chúng đưa qua ghe để chở về nhốt ở giữa sân vận động Rạch Giá. Từng nguời một, chúng tôi bị khám xét lại. Trong túi của tôi c̣n dấu được năm tờ giấy 100 dollars, và một vài chỉ vàng, nhưng ở dưới vớ của tôi cũng c̣n dấu thêm được 300 dollars nữa. Tôi thấy tên bộ đội đứng canh gần chỗ tôi ngồi, coi có vẻ sáng sủa. Tôi hắng giọng cho hắn chú ư, và bảo nhỏ “trong túi tôi có ít vàng và tiền đô, lấy đi.” Nghe thấy thế hắn kêu tôi đứng qua một bên, lấy vàng và tiền trong túi tôi xong, hắn kín đáo cất vào túi và quát to “anh này đă khám xong, ngồi qua bên này.” Nhờ thế mà tôi c̣n giữ lại được 300 đô, đúng là ông bà ta đă nói “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn.”

2.) Chuyện người tù Cải Tạo Nguyễn Hữu Hải:

Ngay chiều ngày hôm đó chúng tống chúng tôi vào khám lớn Rạch Giá. Một hai ngày sau th́ số người càng ngày bị bắt, nhốt vào chỗ chúng tôi càng đông. Đa số là dân từ Sài g̣n xuống, và nhiều người vừa mới đến bến xe, đứng lớ ngớ là bị bắt liền! Chúng không cho chúng tôi thức ăn, người nào có tiền th́ gửi mua từ bên ngoài. Một vài người Hoa trong tù cũng đă mở ngay quầy hàng bán lại cho bạn tù những bịch nước đá, thuốc lá, chuối, bánh ḿ không ăn với đường.

Chúng nhốt chúng tôi được khoảng hơn một tuần lễ, trong lúc chúng tôi đang nằm chờ giất ngủ, hay ngồi quanh tán gẫu th́ bất ngờ đèn đuốc bên ngoài được tắt ngóm, tiếng chân chạy rầm rập bên ngoài pḥng giam. Chúng tôi ngạc nhiên, hồi hộp, và thắc mắc không biết chuyện ǵ đă xẩy ra? Khi cửa pḥng giam mở ra, chúng tôi đă thấy sẵn hai hàng lính VC với gương mặt cô hồn các đảng, súng AK 47 lăm le như sẵn sàng nhả đạn.

Viên chỉ huy gằn giọng:” Tất cả những người ở đây đều là tù binh, nhất cử nhất động đều phải xin phép, ai mà chống đối cách mạng sẽ bị xử bắn tại chỗ.” Hắn tiếp lời:” Nào, bây giờ bắt đầu đếm số từng người một, từ một đến mười, ai đếm xong, bỏ hai tay lên đầu và bước ra khỏi cửa.” Đứng gần nơi cửa, tôi vội hô to:” Nguyễn Hữu Hải, số một.” Tôi để hai tay lên đầu và bước vội ra khỏi cửa để tránh cái không khí ngột ngạt hôi hám bên trong pḥng giam.

Cứ mười người chúng tôi là đủ toán, và được dẫn độ ra những chiếc xe bít bùng đậu bên ngoài. Người ta đứng bu quanh bên ngoài hàng rào, có tiếng gọi nhau ơi ới chắc là thân nhân của những người bị nhốt. Tôi nghe loáng thoáng có người nói:”Họ đưa các ông đi nhốt chỗ khác.” Chúng tôi ngồi trên xe, cố gắng vạch những tấm vải bố lên để mong nh́n ra ngoài xe, nhưng vô vọng!

Sau khi đă di chuyển tụi tôi lên hết trên xe, th́ xe bắt đầu lăn bánh. Và xe chạy ḷng ṿng một hồi th́ đến Tắc Cậu, trời đă rạng sáng. Chúng tôi được chuyển xuống những chiếc ghe bầu tại Tắc Cậu, bên ngoài thị xă Rạch Giá. Ghe khởi hành và chạy vào sông Cái Lớn, hướng về phía những khu rừng U-Minh. Ghe chạy đến khoảng trưa th́ tấp vào bên bờ sông, tên chỉ huy ghe chúng tôi nói:“Yêu cầu cởi bỏ hết giầy dép, bỏ lại hành lư lỉnh kỉnh nặng nề trên ghe, tất cả phải rời khỏi ghe.”

Không thấy bờ đất đâu, chỉ thấy những cây tràm cây đước mọc từ dưới nước lấp xấp mọc lên! Chúng tôi lục tục nhẩy ra khỏi ghe, leo xuống, nước ngập ngang đầu gối. Chân không mang giầy vớ, chúng tôi rụt rè, cực khổ lội nước buớc đi những bước chân trần trên x́nh lấy. Đi giầy dép đă quen, đi chân đất cũng đă thấy đau và khó chịu rồi, nay phải lội trên x́nh lầy. Những cành cây mục, vỏ trai vỏ ṣ, hay rễ cây duới x́nh đâm cắt vào chân chúng tôi, đau lắm! Mỗi một lần đạp chân xuống là tôi thấy đau nhói tận tim óc ḿnh. Chúng dẫn chúng tôi cứ như thế, khoảng gần một tiếng đồng hồ sau th́ chúng tôi đến một con đường đất đắp cao.

Đến gần chiều tối th́ chúng tôi đă thấy nhà cửa lác đác, dân chúng đứng bên đường nh́n chúng tôi với con mắt hằn học; “Đ.M. bắt được hết bọn tù, hàng binh rồi,” và họ nguyền rủa:” Đ.M. nhốt tụi nó mút chỉ cà na cho tao!” Chúng bắt chúng tôi tiếp tục lê bước cho tới tối.

Trời tối đen như mực, chúng tôi phải vịn vào vai nhau mà đi. Chúng tôi không dám bỏ tay rời người đi trước. Trời tối đen đến nỗi không nh́n thấy cả người đi trước ḿnh nữa, nên nhiều khi có người bị hụt chân chúi xuống th́ những người sau ngă đè lên, hay không may bị chậm lại th́ những nguời đi sau dồn cục lại! Chúng tôi cũng không dám bỏ trốn đi v́ biết chắc từ lúc ban ngày là chung quanh chúng tôi toàn là rừng tràm rừng đước, người dân không có thiện cảm, thiếu điều c̣n sợ bị bỏ rơi lại nữa!

 

Chúng tôi cứ thế lầm lũi, người trước dắt díu người sau mà đi theo tụi dẫn đường. Chúng tôi mệt mỏi qúa đỗi, chúng tôi đói khát ghê hồn, chúng tôi lần ṃ như những tên ăn mày mù ḷa. Một hồi sau, chúng tôi đến được một trạm xá ở sâu trong rừng. Chúng tôi được dừng lại, mỗi người được phát cho một chén cháo và mấy hạt muối. Tôi đói quá, và mệt quá. Húp vào tí cháo, thấy tỉnh hẳn nguời. Lần đầu tiên trong đời, tôi đă thấy miếng cháo lơng bơng nấu bằng gạo lứt ăn với tí muối nó ngon đến như thế. Nó ngọt tới tận chân răng đầu lưỡi, nó ngọt tới tận con t́ con vị. Tí muối hột đă khích thích cái mồm miệng lạt lẽo đắng ngắt của tôi được hồi sinh, hạch nước miếng của tôi đă được nó kích động mạnh mẽ. Ăn hết tí cháo, tôi vẫn c̣n thèm; tôi vét sạch tí nước cháo c̣n quện dưới đáy chén; tôi tiếc măi là ḿnh đă ăn vội và nhanh quá, chưa kịp nhai kỹ để tận hưởng cái vị ngon ngọt của gạo! Sau đó chúng chia cho chúng tôi cứ mười lăm người th́ vào một căn cḥi thấp lợp bằng lá dừa. Những căn cḥi này thấp lắm, chúng tôi chỉ có thể đứng lum khum mà không thể nào đứng thẳng người được! Chúng phát cho mỗi người một cái “tỉn” cũ đựng nước mắm, dùng để phóng uế trong đêm. Chúng hăm he:”Tuyệt đối cấm nói chuyện, ngủ đi.”

Hai ḷng bàn chân tôi rêm nhức v́ những vết cắt, cứa, xây xước khi phải lội śnh lầy và đi bộ. Quá mệt mỏi, đói và lạnh, tôi ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau, khi nghe tiếng “kẻng” và tiếng loa phóng thanh lanh lảnh:” Sẽ có người đến mở cửa, và tất cả mọi người phải đi ra ngoài làm vệ sinh.” Tôi sách cái tỉn của tôi đi theo mọi người lần ṃ theo những cây cầu khỉ ra b́a rừng để đổ chất thải xuống śnh.

Chúng tôi được nghỉ ngơi mấy ngày th́ bị kêu tập họp, đưa lên hội trường. Hội trường là một khoảng đất trống, rộng, có mấy chục cái băng ghế dài đóng bằng cây tràm. Chúng nói: ”Đây là chỗ học tập cải tạo của các anh, khi nào mấy anh học thuộc những bài học này,” chúng dụ dỗ và khích bác hay mỉa mai:” có mấy bài ấy mà, th́ các anh sẽ được trả tự do, về sum họp với gia đ́nh.” Tôi vẫn c̣n nhớ những bài học của chúng như sau:

Bài học thứ nhất: Lao động là vinh quang;

Bài học thứ hai: Đế quốc Mỹ là con đỉa hai ṿi, một ṿi hút máu nhân dân ta, một ṿi hút máu nhân dân thế giới.

Bài học thứ ba: Ngụy quân là cha đẻ ngụy quyền.

Bài học thứ tư: Ngụy quyền là tay sai cho ngụy quân để đàn áp nhân dân ta.

Bài học thứ năm: Ba gịng thác cách mạng.

Bài học thứ sáu: Chính sách mười điều bảy điểm của Mặt trận Giải phóng Miền Nam.

Bài học thứ bảy: Vùng kinh tế mới.

Chúng tiếp lời:”Đó là những bài các anh sẽ phải học, nhưng việc đầu tiên các anh phải học là nội quy của nhà trại. Nội quy nhà trại như sau:

Không được giữ những ǵ bén nhọn;

Nhất cử nhất động phải xin phép;

Kể từ bây giờ các anh phải kêu ban quản giáo là ông bạn và xưng tôi;

Khi gặp ban quản giáo đi tới, các anh phải bỏ giáo mác xuống và quay mặt vào tường;

Khi nói chuyện với ban quản giáo th́ phải đứng cách xa ba thước;

Không được gọi các anh bộ đội là cháu, dù rằng các anh bộ đội này chỉ bắng tuổi các con cháu các anh. Lư do các anh bộ đội tuy nhỏ tuổi nhưng có công với cách mạng, chống Mỹ cứu nước chứ không như các anh chỉ “ngồi mát ăn bát vàng;”

Các anh phải học thuộc ḷng bài quốc ca là bài “Mặt trận giải phóng Miền Nam.”

Sau đó chừng vài ngày th́ chúng tôi bị bắt đi lao động, chặt cây rừng về để cất tiếp nhà trại, chỉ tiêu là mỗi nguời phải mang về hai cây. Tôi được biết thêm là nơi đây đă là một nhà tù của VC để nhốt tù binh VNCH trước năm 1975. Người hướng dẫn chúng tôi cách sinh hoạt của trại tù là một anh trung si bị bắt từ năm 1973. Anh ta cho biết: “những tù chung với anh từ cấp úy trở lên đă bị dẫn đi mất biệt rồi! Chúng thủ tiêu tù bằng cách bẻ cổ mà không bắn sợ tốn đạn hay sợ tiếng nổ gây sự chú ư!” Tôi học cách đốn cây, và cách đưa cây về trại.

Buổi sáng thức dậy theo tiếng kẻng; buổi chiều đi ngủ bằng tiếng kẻng… Tiếng kẻng đă ám ảnh tôi đến tận bây giờ! Cái âm thanh sắc lạnh đó đă từng chi phối nếp sống và cuộc đời tôi trong giai đoạn đó thật là kinh khủng!

Đến khoảng tháng thứ tư là chúng tôi được viết thư về cho gia đinh và thân nhân để được đi thăm nuôi. Trong chuyến thăm nuôi đầu tiên, tôi có tên trong danh sách. Nghe tên được kêu, tôi đă chạy như bay đến nhà thăm nuôi. Chỗ thăm nuôi là một cái lều bằng lá, không có vách; bên trong đặt năm hay sáu cái bàn dài. Thấy mẹ tôi và cô em gái lần ṃ đi thăm tôi. Tôi ngồi một bên bàn, bên kia là mẹ và cô em gái, và ngồi ngay nơi đầu bàn là một tên bộ đội với cặp mắt cú vọ vờ vịt ngó quanh ngó quất, nhưng hai tai lắng nghe không bỏ xót một tiếng nào!

“Con có đói không?” Mẹ tôi mở lời;

“Không, con không có đói, ở đây đă có cách mạng lo cho đầy đủ.” Tôi nghiêm nghị nói dối như vậy, rồi vội tiếp lời” Mẹ gởi cho con một ít quần áo cũ, quần áo con rách hết cả rồi!” Cứ như thế với những câu vô thưởng vô phạt đă được trao đổi giữa mẹ con chúng tôi. Mẹ tôi nắm lấy đôi bàn tay tôi, bà bóp nhẹ đôi bàn tay chai cứng để thông cảm với nỗi bất hạnh của tôi cũng như của bà, và của toàn thể những người dân miền Nam đă bị rơi vào tay CS. Giờ thăm nuôi chỉ có 30 phút ngăn ngủi. Mẹ và em tôi bịn rịn nh́n tôi thất thểu đi về trại. Tối đến, chui vào mùng, tôi khui ra và nhâm nhi, tu hết một lon sữa đặc có đường mà mẹ và em tôi mới mang cho hồi chiều. Vị ngọt của đường của sữa sao mà nó ngon, nó ngọt đến như thế! Tôi nhẩn nha nằm trong mùng mà tu lon sữa, nhớ lại h́nh ảnh mẹ và em tôi hồi chiều, tôi cảm động và tủi thân đến chảy nước mắt. Chắc các bạn khác trong trại tù th́ cũng giống như tôi thôi. Nói về muỗi th́ các bạn đă từng phục vụ tại Năm Căn, Cà Mau, hay trong vùng U Minh Thượng đều đă gặp phải cái nạn này rồi! Muỗi nó nhiều vô kể, và nó háu đói vô cùng! Tiếng vo ve của nó đúng là như sáo thổi trong câu ca dao của ḿnh “muỗi kêu mà như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh.” Nhiều khi ngay ban ngày ban mặt mà nó cung tấn công đốt ḿnh, c̣n ban đêm th́ khỏi phải nói! Trời vừa hơi xập tối là chúng đă kéo ra từng đàn, từng đàn. Bạn chỉ cần mặc một cái áo mỏng, không cần phải mỏng như cái áo thun lá, ngồi một chút ngoài mùng thôi, là lưng của bạn đă bị chúng bâu đen đặc rồi, vuốt tay qua lưng vải áo một cái là bạn đă thấy tay ḿnh đỏ thẫm mầu máu của chính ḿnh do muỗi hút rồi!

Đời sống trong trại tù nó khổ cực như vậy đó, nhưng mà t́nh cảm giữa anh em bạn bè th́ lại rất là thân thiết. Có một câu chuyện mà tôi c̣n nhớ măi, có một hôm “nhà trại” nói: “các anh học tập tốt, nhà trại sẽ cho mổ một con heo, anh nào biết làm heo th́ xung phong đi làm.” Tôi có anh bạn tên Mai Hữu Lư, sau này anh ta bị chuyển trại ra ngoài Bắc và không biết sống chết thế nào, t́nh nguyện đi mổ heo. Buổi trưa, anh ta dấu mang về được mấy miếng thịt heo sống cho chúng tôi “bồi duỡng.” Mấy miếng thịt heo bầy nhầy, có tí thịt, nhiều mỡ, và tí da…Mấy đứa chúng tôi chia nhau ăn. Ăn vào có chất mỡ, chất thịt nó bùi, nó béo, nó ngon làm sao đâu ấy, tỉnh hẳn cả người. Nhưng sáng sớm ngày hôm sau, tôi và một vài anh em ăn miếng thịt heo ngày hôm qua đă thấp thỏm cả đêm để chờ được mở cửa, là chúng tôi chạy nhanh lên “nhà đội”:

“Tŕnh anh bộ đội, cho tôi xin phép được đi cầu.”

“Ừa.”

“Tŕnh anh bộ đội, cho tôi xin được phép đi tắm.” v́ đêm qua đă “văi” cả ra quần!

Ôi miếng thịt heo có tí mỡ tí da đă làm khổ chúng tôi. Trong lúc tôi đang tắm th́ phía nhà cầu bị xụp đổ v́ quá nhiều người ngồi! Thật là kinh khủng, mười mấy anh em bị xụp xuống cái hố cầu tiêu, lúc nhúc ruồi bọ!

Tôi ở khu “A”, trại nhốt tù quân sự, có khoảng 500 tù nhân có cấp bậc từ Đại úy trở xuống. Tôi đă gặp lại Trung úy Rượi, Đại đội trưởng khóa sinh Trần B́nh Trọng ở TTHL Quang Trung, và anh Nguyễn Văn Hải, Trung úy HQ không biết thuộc khóa nào, cùng bị nhốt chung. Thấm thoát đă gần hai năm th́ tôi được chuyển trại xuống khu “B” dành cho “ngụy quyền” gồm những nhân viên hành chánh như phó tỉnh trưởng, quận trưởng, xă trưởng, trưởng ấp, nhân viên CSQG… Tôi nhập “tổ cơm” với các bạn CSQG như Trần Thanh Thông, Trần Tài Xuân (hiện đang làm chủ một nhà hàng tại San Jose), Lưu Qúy Tùng, Nguyễn Long An để cùng nhau “học tập tốt, lao động tốt”. Nhưng “không phải các anh học tập tốt là các anh được về đâu, không phải các anh lao động tốt là các anh đuợc về!” Mà chỉ “khi nào cách mạng thấy các anh tốt là cách mạng tự nhiên tha cho các anh mà thôi.” Chúng c̣n lên giọng:” Nói thật với các anh như thế này nhé, trong số các anh có người ba năm th́ được tha về, có người ba mươi năm th́ về, nhưng cũng có người râu dài tới rún cũng chưa được về nữa!” Chúng c̣n hăm he:”Chỉ khi nào thành thật khai báo, th́ mới được cách mạng xét lại.” Tóm lại là không biết đến bao giờ mới gọi là tốt cả! Nhưng chỉ hơn hai năm sau, th́ tôi đă t́m ra chân lư thế nào là tốt rồi.

“Xin ông bạn cho tôi đi về, tôi sẽ biếu ông bạn hai cây vàng.” Tôi nói;

“Anh Hải, tôi thấy anh học tập tốt rồi đó, mà sao bây giờ anh lại dám hối lộ cách mạng hả?, anh muốn hủ hóa cán bộ hả?”

“Không thưa ông bạn, tôi không dám hối lộ cách mạng hay hủ hóa cán bộ đâu, tôi chỉ biết ơn ông bạn một cách cụ thể.” Tôi đă trả lời như vậy, và quả y như rằng, một tuần lễ sau là tôi đă được gọi lên nhà trại nhận giấy trả tự do.

3.) Nguyễn Hữu Hải và chuyện Vượt Biên:

Sau khi đă được mẹ tôi mang xuống “cúng” cho tụi quản giáo hai “cây vàng”, tôi được trả tự do khoảng một tuần lễ sau đó. Cả nhà tôi mừng rỡ, mẹ cho mua “chui” ngay một con gà mái to để ăn mừng, và đồng thời cho tôi được ăn lại những món ngon mà bấy lâu nay tôi vẫn hằng mơ tuởng. Ngay sáng ngày hôm sau, tôi phải ra tŕnh diện tổ trưởng, và dĩ nhiên là phải có tí quà cáp gọi là làm đầu câu chuyện. “Anh cứ về nhà nghỉ ngơi cho khỏe, rồi sẽ có người đến kêu đi làm công tác thủy lợi.” Hắn bảo tôi như vậy. Tôi ừ ào cho qua chuyện, rồi đạp xe “ṃ” vào tận Chợ Lớn, t́m coi mấy tên đệ tử cũ người Hoa có c̣n ở lại hay không? Mấy nguời này gặp lại tôi họ rất mừng rỡ, có người giúp đỡ tí tiền nong, có người dẫn đi làm việc cho một “Cơ Xưởng Vật Tư Kỹ Thuật” để khỏi phải đi thủy lợi. “Ông thầy cứ đi làm b́nh thường, nếu cần thêm tiền bạc th́ cho chúng tôi biết, sẽ lo cho ông ngay;” Họ ân nghĩa bảo tôi vậy. Cũng nhờ vậy mà tôi có được cái giấy “chứng nhận công nhân viên”, và tôi đă có thể “mày ṃ” ra Phan Thiết nhiều lần để đi t́m đường vượt biên. Thằng em ruột của tôi (Nguyễn Anh Tuấn, SQ/KT Không Quân) và hai cô em gái của tôi cũng đă nhờ những chuyến đi móc nối này mà hiện nay đang định cư bên Ḥa Lan.

 

Mấy tháng trời sau khi được thả ra tôi đă không dám ngủ ở nhà một đêm nào! Chỉ sợ đêm khuya chúng nó đến gơ cửa mà bảo rằng “Ở đây phường khóm chưa thấy anh học tập được tốt, anh phải đi học tập cải tạo thêm nữa!” Tôi đă được nghe có rất nhiều trường hợp xẩy ra như vậy. Ban đêm, mỗi một lần nghe có tiếng chó sủa, là tim tôi lại thót lên, và chuẩn bị leo tường lánh mặt. Tôi luôn luôn thay đổi chỗ ngủ, nay th́ ở nhà mẹ tôi bên Trần Quang Diệu, mai nhà cô em ở bên Trương Quốc Dung, hoặc mốt ở nhà cô em khác bên đường Trần Quốc Toản. Trong thời gian này tôi có “làm quen” được với một em gái “hậu phương”, nhưng em gái hậu phương mặn mà này lại là một “đồng chí nữ“ công an, làm việc bên Phường. Khi nào cần phải đi đâu là tôi đă được em gái hậu phương này “cấp” ngay cho một tờ giấy phép đi đường. Sau này tôi cũng đă lo tṛn cho “cô em” t́m được một đường vượt biên, và hiện nay đang sống bên Tây. Cũng nhờ vậy mà tôi đă nhiều lần ṃ lại xuống tận Tỉnh Rạch Giá, vào tuốt đến những con Kinh Láng thứ 10 hay 11. Cũng v́ bỏ ngang qúa sớm cái mộng làm sĩ quan Hải Quân, nên tôi chẳng rành thế nào là tránh cồn, tránh cạn, con nước lên con nước xuống, hay sóng ngang sóng ngược… “Ông Ba Huệ”, đang làm tài công cho một chiếc ghe quốc doanh ở vùng Rạch Giá, đă chỉ cho tôi cách điều khiển, và huấn luyện cho tôi lái ghe. Chiếc ghe quốc doanh này c̣n rất tốt, với dàn máy Yan Ma, đầu bạc. Chúng tôi thường kéo nhau đi uống ruợu, rồi khi về kéo theo mấy “em út” xuống ghe “lén nhẩy đầm” cho tới khuya.

Rồi một ngày đẹp trời đă đến, những người bạn Hoa Kiều này đă tổ chức xong một đường dây vượt biên, có băi đáp đàng hoàng. Họ giới thiệu tôi với anh Nguyễn Văn Dũng, cựu thiếu tá HQ (không biết khóa mấy) mới được thả ra khỏi trại học tập, và anh Nguyễn Văn Trợ, một trung sĩ CK/HQ. Chúng tôi xuống Rạch Giá được đúng có một tuần th́ được lệnh ra khơi, có hai chiếc ghe công an biên pḥng hộ tống. Ghe chúng tôi mang số KG-0178, có chiều dài khoảng 25 thước, và 4 thước rưỡi chiều ngang. Trên đường ra cửa biển, hai ghe công an này đă bắt chúng tôi ngừng lại nhiều lần để đổ thêm người của chúng lên ghe chúng tôi. Chúng dẩn chúng tôi ra khơi hưóng về phía Thái Lan. “Đă đến hải phận Quốc Tế rồi, chúng tôi phải quay về, các ông bà, cô bác không c̣n cần dùng tiền Việt Nam nữa, yêu cầu cho chúng tôi xin;” Nói xong chúng cầm chiếc nón lá đưa ra, và chỉ một loáng sau là chiếc nón lá được trả về với đầy tiền. Đa số là giấy 50 dollar, và đó là những tờ giấy lớn nhất thời bấy giờ. Chúng chúc chúng tôi ra đi thượng lộ b́nh an, và quay tàu về lại hướng bờ biển Việt Nam.

Ghe chúng tôi tiếp tục nhắm hướng Thái Lan đi thêm chừng hơn nửa ngày nữa th́ thấy thấp thoáng có hai chiếc ghe. Hai chiếc ghe này mang số Thái Lan; họ ra hiệu cho chúng tôi chạy chậm lại và cập vào bên hông. Tôi làm đại diện nhẩy qua ghe của chúng. Tên chủ ghe nguời Thái biết tí chút tiếng Anh. Sau một hồi nói chuyện mỏi tay, tôi hiểu được ra rằng chúng muốn chúng tôi trả tiền cho chúng, rồi chúng sẽ hướng dẫn chúng tôi vào đến tận SongKla. Tôi về tàu tŕnh bày lại với chủ ghe và mọi người trên ghe của tôi, mọi nguời đồng ư và gom góp lại được mười ngàn dollars ($10,000) giao cho chúng. Chúng mang qua cho chúng tôi 2 thùng cá, mấy can nước ngọt, và ra hiệu cho chúng tôi chạy theo chúng. Ghe chúng tôi chạy theo ghe của chúng cho đến hết đêm, và vào sáng ngày hôm sau th́ chúng tôi đă thấy hiện ra ba ḥn núi nơi xa xa. Chúng bảo hướng đó là SongKla, vẫy tay cho chúng tôi tiếp tục chạy về hướng đó, và chúc chúng tôi may mắn.

Nhưng may mắn đâu không thấy, mà sau đó chúng tôi chỉ thấy những bất hạnh dồn dập đổ xuống ghe của chúng tôi mà thôi! Thoạt tiên chúng tôi thấy xuất hiện hai chiếc ghe Thái Lan khác đang xả máy tiến về phía chúng tôi; chúng cập vào hai bên lườn tàu. Một số nhẩy qua ghe chúng tôi, chiếm pḥng lái, kê súng vào đầu tài công. Chúng đập phá pḥng lái, lấy mất hải đồ và la bàn. Chúng chĩa súng vào đám nguời tỵ nạn khốn khổ chúng tôi, bắt những người đàn ông thanh niên phải bước qua ghe của chúng ở phía bên tay trái, c̣n đàn bà con gái th́ phải leo qua ghe phía bên tay phải. Chúng lục xoát ghe chúng tôi, phá bung những hành lư chúng tôi mang theo để ăn cướp những món đồ có giá trị như vàng hay tiền bạc... Đồng thời chúng cũng khám xét chúng tôi từng người một để vơ vét đồng hồ, nữ trang, hay tiền bạc mang giấu trong ḿnh. Chúng cũng không quên làm hỗn những phụ nữ và con gái! Ghe chúng tôi lênh đênh giữa biển khơi, dập dềnh với sóng nước, và làm mồi cho lũ hải tặc. Cứ như thế, tuần tự có cả thẩy mười hai ghe hải tặc trong ngày đă đến thay nhau cướp phá ghe tỵ nạn của chúng tôi! Có lẽ chúng đă gọi báo cho đồng bọn để thay phiên đến làm thịt chúng tôi cho đến xác sơ, tơi tả!

Ngay sáng ngày hôm sau, một chiếc ghe Thái Lan nữa đang nhắm hướng chúng tôi mà phóng đến. Chúng lượn quanh ghe chúng tôi ba lần. Chúng tôi ră rượi, chúng tôi không c̣n sức lực để mà có phản ứng, chúng tôi nằm chờ, phó mặc cho định mệnh. Một tên trong bọn chúng xổ ra một tràng tiếng Hoa. Mấy nguời Hoa trên ghe chúng tôi vội vùng dậy và trả lời bằng tiếng Hoa. Một người Hoa, được cho sang bên ghe của chúng để nói chuyện. Họ là người Hoa, nên đă bằng ḷng kéo chiếc ghe của chúng tôi vào bờ. Họ c̣n dặn, nếu vào được đến bờ rồi th́ phải đốt ngay con tàu đi, nếu không th́ sẽ bị đẩy ra khơi trở lại. Họ kéo chúng tôi cho đến khi vào tới sát bờ, và để cho ghe chúng tôi đâm thẳng vào băi. Khi thấy ghe chúng tôi đă bị mắc cạn gần bờ, tôi vội hô to:” mọi nguời nhẩy xuống, lội vào bờ.” Cũng chẳng cần ai ra lệnh, mấy thanh niên nhẩy xuống trước, nước chỉ tới ngang lưng. Mọi nguời nhẩy ào xuống, ngoại trừ tôi, Dũng, Trợ, và Trần Bội Chương là ở lại t́m cách đốt chiếc ghe. Loay hoay t́m măi chúng tôi mới kiếm được chiếc hộp quẹt con con. Gom đống quần áo, giẻ rách lại, chúng tôi ruới dầu và châm lửa đốt đi chiếc ghe tỵ nạn của chúng tôi. Chúng tôi nhẩy một cái ào xuống biển mà lội vào bờ. Lên đến bờ, quay đầu nh́n lại chiếc ghe đă đưa chúng tôi đến bến bờ tự do đang cháy bốc khói đen ngoài kia, chúng tôi vừa mừng vừa hồi hộp. Nó bé cỏn con, nằm nghiêng nghiêng bên triền sóng, con tàu thân yêu đă đem chúng tôi đến được nơi đây với bao nhiêu sóng gió, nguy nan. Cũng phải cám ơn chiếc ghe Thái Lan và người chủ tàu đă làm ơn kéo chúng tôi vào bờ. Nhưng sau khi đă được nhập trại tỵ nạn, và miêu tả chiếc ghe đă cứu thoát chúng tôi cho những người đến trước, th́ mới khám phá và được biết rằng là cũng chính chiếc ghe Thái Lan này đă cướp bóc, hăm hiếp, và giết chóc không biết bao nhiêu là những ghe và người tỵ nạn khác. Đời thật không biết đâu mà ngờ cho được! Tôi nghĩ có lẽ tại thấy tàu của chúng tôi đă bị cướp bóc tả tơi quá rồi, và những người đồng hương người Tàu với chủ ghe, nên chúng tôi mới được cứu giúp.

Chúng tôi lên bờ được chừng khỏang mười phút sau th́ thấy một tóan lính Cảnh Sát Dă Chiến Thái Lan mang dây kẽm gai đến giăng, rào vây quanh chúng tôi lại. Dân chúng Thái Lan trong làng gần đấy cũng mang nước uống và đồ ăn tiếp tế cho chúng tôi. Khi hỏi ra th́ mới được biết nơi đây không phải Songkla, mà là Patthani, một tỉnh ở phiá Nam của Thái Lan. Sau đó th́ chúng tôi được đưa về cho tạm trú khoảng một tuần lễ tại một trại nuôi ḅ, “Chuồng Ḅ của Hoàng Gia”. Sau khi hoàn tất thủ tục giấy tờ với cảnh sát Thái Lan, chúng tôi được đưa về trại tỵ nạn Songkla.

Ngay sáng sớm ngày hôm sau ở trại tỵ nạn, tôi đang nằm “nướng” trên giường để thụ hưởng cái không khí tự do của ngày đầu tiên sau bao nhiêu năm chịu đựng dưới ách kềm kẹp của Cộng Sản. Thôi rồi không c̣n những hồi hộp lúc nửa đêm, sơ hăi nghe tiếng chó sủa khi về sáng. Không c̣n những ŕnh rập của cán bộ, công an phường khóm. Không c̣n những thấp thỏm, hồi hộp, luôn luôn lo âu, sợ hăi bị bắt bớ giam cầm cải tạo. Êm đềm quá! Thanh b́nh quá, nhưng buồn thay, những điều này chúng tôi lại không có được hưởng trên chính quê hương Việt Nam yêu dấu của chúng tôi! Không c̣n những cơn sóng to, gió lớn. Không c̣n những vô vọng giữa biển khơi không thấy đâu là bến bờ! Không c̣n phải âu lo với những ghe hải tặc dă man tàn ác! Tôi lim dim mắt, nằm lắng nghe cái tĩnh lặng của buổi sớm mai trong pḥng, cái tiếng lào xào sao xác, âm vọng bắt đầu trong ngày của đời sống trong trại tỵ nạn. Bỗng tiếng lảnh lót, khuếch đại chói tai của cái loa phóng thanh:” Ai là Nguyễn Hữu Hải, trước làm việc tại ṭa Đại Sứ Mỹ ở Việt Nam hăy lên tŕnh diện văn pḥng trại.” Tôi ngạc nhiên! Thay quần áo, tôi lên văn pḥng trại, và được đưa vào gặp mặt viên trung tá người Thái Lan. Ông ta tươi cười thân thiện bảo với tôi là “boss” của ông ấy muốn mời tôi ra khỏi trại, và đi gặp mặt một người. Nơi ông ta chở tôi đến là Ṭa Lănh Sự Mỹ. Khung cảnh quen thuộc ở Ṭa Lănh Sự đập vào mắt tôi, nào là “Việt Cộng termilogy”, tự điển Nguyễn Văn Khôn… Tôi được tiếp chuyện với một viên cố vấn Mỹ mà tôi chưa hề quen biết. Ông ta nói là được biết tôi đă từng làm việc tại TĐS Hoa Kỳ ở VN, nên đề nghị cho tôi một công việc tạm tại TLS Mỹ với số lương là hai trăm đô một tháng, bằng với tiền lương của một giáo chức ở Thái Lan, và ông trung tá Thái Lan sẽ cho xe đón tôi ra làm việc hàng ngày. Đang túng bấn và đuợc trở lại làm việc th́ c̣n ǵ hơn nữa, tôi nhận lời đi làm liền ngay sáng ngày hôm sau. Thế là cứ sáng sáng tôi “sách ô” đi theo xe của viên trung tá người Thái ra ṭa LS Mỹ làm việc, và gọi là cho có việc làm chứ cũng chẳng có ǵ. Nhưng sau hơn một tháng làm việc th́, những tiếng xầm ś ghen tức hay chê bai lọt đến tai tôi! Tôi là một nguời tỵ nạn duy nhất đă được ra làm việc tại ṭa LS Mỹ. Nhất là từ ban Chỉ Huy trại và đám thông dịch viên đă ghen tức ra mặt, và làm như là tôi đă ăn cướp mất “cơm chim” của họ không bằng ấy! Tôi chán nản và buồn phiền, nên quyết định xin đi tỵ nạn với phái đoàn nguời Pháp mà không chờ đi Mỹ. Ngay từ bé tôi đă mơ được đi “Tây”, muốn được nh́n thấy kinh đô ánh sáng. Những bài thơ của Cung Trầm Tưởng hay Nguyên Sa được phổ nhạc như Tiễn Em, Mùa Thu Paris (Cung Trầm Tuởng), Paris có ǵ lạ không em?(Nguyên Sa)… đă làm cho tôi muốn được hưởng những cái lăng mạn của ḍng sông Seine, của khu vuờn Lục Xâm Bảo, hay ga Lyon đèn vàng… Một tuần lễ sau đó tôi đă có mặt tại Paris, Kinh Đô Ánh Sáng.

Xin chép lại những bài thơ ấy để những bạn nào không nhớ sẽ cảm nhận được t́nh cảm của tôi:

 

Paris có ǵ lạ không em?

Mai anh về em có c̣n ngoan,

Mùa xuân hoa lá vương đầy ngơ,

Em có t́m anh trong cánh chim.

Paris có ǵ lạ không em?

Mai anh về giữa bến sông Seine,

Anh về giữa một gịng sông trắng,

Là áo sương mù hay áo em?

Em có đứng ở bên bờ sông?

Làm ơn che khuất nửa vầng trăng

Anh về có nương theo gịng nuớc

Anh sẽ t́m em trong bóng trăng

Anh sẽ thở trong hơi sương khuya

Mỗi lần tan một chút sương sa

Bao giờ sáng một trời sao sáng

Là mắt em nh́n trong gió đưa ...

 

Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay

Tóc em anh sẽ gọi là mây

Ngày sau hai đứa ḿnh xa cách

Anh vẫn đuợc nh́n mây trắng bay

Anh sẽ chép thơ trên thời gian

Lời thơ toàn những chuyện hờn ghen

V́ em hay một vừng trăng sáng

Đă đắm trong ḷng cặp mắt em ?

Anh sẽ đàn những phím tơ trùng

Anh đàn mà chả có thanh âm

Chỉ nghe gió thoảng niềm thương nhớ

Để lúc xa vời để nhớ nhung

Paris có ǵ lạ không em ?

Mai anh về mắt vẫn lánh đen

Vẫn hỏi ḷng ḿnh là hương cốm

Chả biết tay ai làm lá sen ?...

Nguyên Sa

 

Mùa thu Paris

Trời buốt ra đi

Hẹn em quán nhỏ

Rưng rưng rượu đỏ tràn ly

Mùa thu đêm mưa

Phố cũ hè xưa

Công viên lá đổ

Ngóng em kiên khổ phút, giờ

Muà thu âm thầm

Bên vuờn Lục-Xâm

Ngồi quen ghế đá

Không em buốt giá từ tâm

Mùa thu nơi đâu ?

Người em mắt nâu

Tóc vàng sợi nhỏ

Mong em chín đỏ trái sầu

Mùa thu Paris

Tràn dâng đôi mi

Người em gác trọ

Sang anh, gót nhỏ thầm th́

Mùa thu không lời

Son nhạt đôi môi

Em buồn trở lại

Hờn quên, hối cải cuộc đời

Mùa thu! mùa thu

Mây trời âm u

Yêu người độ lượng

Trông em tâm tưởng, giam tù

Mùa thu !... Trời ơi ! T́nh thu !

Cung Trầm Tưởng

 

Cuộc đời tôi trôi nổi thêm khi tôi có việc làm với Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, UNHCR, và có những lúc tôi cũng đă trở lại làm việc ở Việt Nam, Quảng Ninh hay Hồng Kông. Nay định cư tại San José. Ngồi ôn lại di văng, ghi lại những cảm nghĩ, những nơi ḿnh đă đi qua, nhớ đến những bạn bè thân quen, những kỷ niệm mà sau mấy chục năm qua vẫn c̣n nhớ như in trong trí như với Đệ, với Dục, với Long, với Trực, với Thạnh, với Lành… trong Khóa 20 Sinh Viên Sĩ Quan/Hải Quân, như với Trịnh Long Giang, Phạm Đức, Giang Xú Hà, Trần Xuân Thái trong Cảnh Sát Quốc Gia, như với An, Bằng trong toán Thám Sát Tỉnh, và những người đă nằm xuống cho đất nước Việt Nam thân yêu.

4.) Mảng đời tỵ nạn: Từ trại tỵ nạn, tôi đă được đi tị nạn bên Tây! Khi bước xuống phi trường Charles de Gaulle là tôi phải mang cái vốn Pháp Văn “ăn đong” của tôi ra để xử dụng, không c̣n được dùng đến thứ ngôn ngữ quen thuộc xử dụng hàng ngày trong lúc làm việc ở trại tỵ nạn là Anh Văn nữa. Tôi lại làm trưởng toán cho đám dân tỵ nạn này thành ra phải đứng mũi chịu sào mới chết chứ! Thành ra nhiều khi nói tiếng “Tây” mỏi tay quá chừng! Nhưng cũng may, có điều là dù tôi nói “trời, trăng, mây, nước” ǵ đi nữa, th́ tây hay đầm họ cũng hiểu ráo trọi. Chứ không giống như bên Mỹ, ḿnh chỉ đọc sai dấu nhấn đi có một chút là tụi nó cũng “what! What!” loạn cào cào lên.

Nơi chúng tôi đến là “Foyer de Créteil,” trước kia đây là một khách sạn, nay được dùng để làm chỗ tạm trú cho dân tỵ nạn Đông Dương. Chúng tôi được xếp chỗ cho cứ hai người một pḥng. Sau khi nhận pḥng, chúng tôi đă được phát cho mỗi người hai mươi đồng franc - thế là tôi ra ngay một cửa hàng giống như cửa hàng Seven-Eleven ở Mỹ, và mua ngay một ít nho, lê, táo mang về pḥng để cùng vài người bạn ăn cho đă thèm, những cái thèm thuồng ao ước bao nhiêu năm nay.

Trưa ngày hôm sau th́ chúng tôi làm xong thủ tục di chú và nhận lănh Thẻ Tỵ Nạn – Carte de Refugié, giống như Green Card bên Mỹ. Và tôi đă trở thành dân tỵ nạn chính trị bên Tây “chính gốc bà Lang Trọc” tại “Kinh Đô Ánh Sáng- Paris” này.

Việc đầu tiên chúng tôi cần học là cách thức đi và xử dụng hệ thống Metro, và xe buưt. Những ngày c̣n đi học, tôi đă có cái tật là mê coi ciné. Những rạp như Rex, Eden, hay Khải hoàn, Casino Sài G̣n, Đa-Kao đều được tôi chiếu cố, thậm chí đến những rạp ở xa như Cao Đồng Hưng hay Đại Đồng tôi cũng “ṃ” đi coi nếu đang chiếu những phim hay. Tôi thuộc nằm ḷng những tên tuổi các tài tử gạo cội như Burst Lancaster, John Wayne, Rita Hayward, Orma Sharif và Julie Christie trong phim Dr. Zhivago (Julie quá đẹp, nàng đẹp như mơ…), Alain Delon, và cô đào hấp dẫn Brigitte Bardot. Nên tôi ghi nhận các tuyến xe, và ngay tuần lễ đó tôi phải làm một chuyến đi xem ciné mới được.

Tôi lấy tuyến đường xe buưt chạy từ Créteil xuống khu Montmarte-Grande Boulevards và khu Montparnasse-Saint Germain để “xem dân cho biết sự t́nh”. Thấy một rạp ciné đang tŕnh chiếu cuốn phim có tên nghe rất hấp dẫn “Les chevaliers-Những chàng kỵ sĩ”. Ái chà, phim này chắc phải hay lắm và chắc mẩm như vậy nên ḷ ṃ mua vé vào xem, tôi đoán như vậy v́ liên tưởng đến những phim như Knights of the Round Table với tài tử đẹp trai Robert Taylor và cô đào trứ danh Ave Gardner, phim Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ- Les Trois Mousquetaires. Không người dẫn đường và trong rạp tối thui, nên tôi ḷ ṃ măi mới t́m được một chỗ ngồi. Sau khi ăn tọa, nh́n lên màn h́nh đại vị tuyến th́ thấy một cặp trai gai trần truồng như nhộng và đương “chiến đấu” một cách mănh liệt! Tôi “tá hỏa tam tinh”, nh́n quanh bên cạnh thấy những “ông tây bà đầm già” cũng từng cặp đang ôm nhau thắm thiết! Tôi hoảng hồn vội “lẩn” ra ngoài một mạch! Khi ra đến ngoài rạp ciné, mà c̣n thấy xấu hổ muốn chết đi được, ngó quanh ngó quất xem coi có ai đang nh́n thấy ḿnh chui ra khỏi rạp hay không? Đó là một kỷ niệm nhớ đời của tôi trong những ngày đầu đời tỵ nạn tại kinh đô ánh sáng.

Tôi lấy xe buưt đi một ṿng từ St Germain- des-Prés, Champs Elysées-đến tháp Eiffel để chiêm ngưỡng Paris. Ngoài ḍng sông Seine thơ mộng th́ tháp Eiffel một biểu tượng cho nước Pháp nói chung và cho Paris nói riêng. Tôi xin được nói qua về ngọn tháp nổi danh này: Tháp Eiffel nằm trên đại lộ Champ de Mars, và kế bên sông Seine, là một kiến trúc phá cách và tiên phuông bằng sắt cao ngất ngưởng nhất thế giới thời bấy giờ. Kỷ lục này đă được giữ măi cho tới năm 1930 th́ bị thay thế bởi Chrysler Buiding của thành phố New York. Khi trúng thầu để được xây dựng, kỹ sư Eiffel đă phải đối đầu với những sự thách đố về kỹ thuật như độ giăn nở không đồng đều của sắt giữa mặt bị hâm nóng bởi nắng và phía đối diện nằm trong bóng râm, nhất là lực đẩy của gió sẽ làm cho thượng tầng cấu trúc của tháp ngất ngư và có thể làm gẫy đổ ngọn tháp. Là một kỹ sư chuyên về cầu sắt, Eiffel đă giải quyết những thách đố kể trên bằng những phương tŕnh toán học hàm số vi phân, và hăng của ông đă được trúng thầu v́ công tŕnh có thể được tháo gỡ bỏ đi nhanh chóng. Tháp đă được hoàn tất vào năm 1889, và dự trù phá bỏ hai mươi năm sau, năm 1909 nhưng như ta đă biết là nó vẫn c̣n hiện diện, và măi măi vẫn là một biểu tượng nổi tiếng cho Paris. Hăng Eiffel cũng đă xây một số cầu nổi tiếng bên Việt Nam, như cầu Hàm Rồng- Thanh Hóa. Có khoảng ba tầng để du khách leo lên thăm viếng, có hai nhà hàng để phục vụ du khách, có thang máy để đưa du khách lên xuống. Đă có khoảng trên hai triệu du khách đă từng thăm viếng tháp, và đông nhất là vào năm 1996 - sinh nhật thứ 100 của tháp. Khi chỉ mới leo lên lầu hai của tháp, nh́n ngắm nh́n khung cảnh thành phố Paris, tôi thấy ḿnh hạnh phúc quá. Tôi có cảm tưởng rằng ḿnh đang sống trong mơ, hít thở không khí tự do, không c̣n sợ hăi bọn công an, không c̣n sợ phải bị kêu lên phường hay tiềng gơ cửa ban đêm, không c̣n phải lo chạy miếng ăn hàng ngày, không c̣n thấy tương lai đen tối. Nghĩ lại thời gian c̣n bị tù “học tập cải tạo” tại kinh Làng Thứ Bảy, thuộc Kiên Giang - Rạch Gía, tôi đă chỉ ao ước được nằm ngâm ḿnh trong bồn tắm nước ấm để đỡ cơn ghẻ ngứa là cũng đủ măn nguyện lắm rồi. Một ước mơ nhỏ bé như thế mà cũng không có được!

Tôi là một người không có đạo, nhưng khi nằm kề với nỗi chết ngoài biển khơi, nhất là vào những lúc bị bọn hải tặc phá hủy pḥng máy và kéo chiếc ghe của chúng tôi ra khơi. Chiếc ghe của chúng tôi lênh đênh trôi dạt giữa sóng gió, dập dềnh như chiếc lá trên một ḍng sông mênh mông. Tôi cũng như nhiều người đă rất lo âu và sợ hăi. Tôi đă lâm râm cầu khẩn Trời, Phật, Chúa, Thánh Thần, cho chí tới bà tổ cố họ Phạm bên Mẹ tôi nữa. Tôi đă hứa là nếu thoát nạn, tôi sẽ đến chuà, đến nhà thờ để tạ lễ. Nhớ đến lời đă hứa, một buổi sáng Chủ Nhật đẹp trời, tôi đáp chuyến xe lửa tại ga Montpartnasse để đến nhà thờ chính ṭa ở Chartres. Khoảng hơn một tiếng sau tôi đă có mặt tại nhà thờ, tôi lên chánh điện và qùy xuống xin lạy tạ với những lời thiết tha nhất trong đời tôi. Sau đó tôi đi theo đoàn du khách để chiêm ngưỡng những tác phẩm hay tượng tạc danh tiếng đặt trong nhà thờ. Khi rời nhà thờ, tôi về lại Paris đi tha thẩn thả bộ dọc theo đường phố chỉ để được nh́n, được ngắm, được sống trong thành phố mà tôi đă từng ước mơ được đến. Khi thấy đói bụng, tôi kiếm một nhà hàng có chỗ ngồi ngoài trời, kêu một miếng thịt ḅ bí tết và một ly rượu vang để vừa tận hưởng món ăn, vừa nhâm nhi ly rượu chát đỏ, và vừa ngắm nh́n những cô đầm đi qua đi lại ngoài đường. Khi tính tiền, tôi thấy giá cả cũng vừa phải không đến đỗi quá mắc như ḿnh đă tưởng. Đến tối tôi mới ṃ về lại chỗ tạm cư Foyer.

Mấy ngày sau, tôi lần ṃ lên hội thiện nguyện Secours Catholics để kiếm người bảo trợ, và ghi danh để nhờ kiếm việc làm. May mắn làm sao, tôi đă được gia đ́nh bà Fourcier ở thành phố Laon, cách Paris khoảng bốn mươi cây số về hướng Đông-Bắc bảo trợ, và kiếm cho một việc làm assembler với lương khởi đầu là hai ngàn quan mới một tuần (khoảng năm trăm dollars). Tôi đă được cho ở tạm tại nhà khách của thành phố. Sáng đi làm từ 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa về ăn cơm và ngủ trưa, chiều 2 giờ mới phải đi làm lại. Thật là hạnh phúc! Thỉnh thoảng tôi về lại Paris, đến khu Maubert để mua thực phẩm Á Đông. Đời sống ở Paris thật là đắt đỏ, nhất là quần áo!

Thấm thoát tôi đă qua Tây được hai năm, và đă được lên lương mấy lần. Cuộc sống không c̣n những háo hức của cái thuả ban đầu nữa. Một hôm tôi lên Paris, vào ṭa đại sứ Mỹ, xin gặp viên chức về di chú. Ông ta niềm nở tiếp tôi: “Tôi có thể giúp anh được chuyện ǵ không?” Tôi chậm răi trả lời: “Tôi muốn xin đi định cư bên Mỹ.” Nghe xong, ông ta nhảy dựng ngược lên, mặt mày nghiêm trọng:” Anh không biết đây là nước Pháp à?” Ông ta giận dữ nói tiếp:”Anh đă đến định cư ở đệ tam quốc gia, và anh đang được hưởng quy chế tỵ nạn ở đây! Bây giờ anh c̣n muốn xin đi Mỹ, thế là thế nào?”

Tôi b́nh tĩnh trả lời: “Tôi cũng có lư do của tôi chứ.” Ngừng lại một chút xíu cho ông ta chú ư, tôi nói tiếp:”Ngày xưa tôi làm việc trong chương tŕnh Phượng Hoàng, trực thuộc toà đại sứ Hoa Kỳ tại Sài G̣n, tôi đă làm việc cho các ông Bill Tucker, Ross của CIA.” Ông ta dịu giọng:”Nếu anh nói như vậy, để tôi hỏi lại xem sao?” Sau một hồi trao đổi điện đàm với một viên chức khác, ông ta bằng ḷng gửi tôi đến hội thiện nguyện Tolstoy Foundation, có trụ sở chính tại New York để họ làm thủ tục giúp cho tôi đi Mỹ. Tuy nhiên trong thời gian chờ đợi th́ tôi lại nhận được một việc làm cho Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), và làm việc tại các trại tỵ nạn ở Hồng Kông như White Head, Chi-Ma Wang, Lai Ko Chau, Sei Kong. Công việc của tôi là dậy và chuẩn bị cho dân tỵ nạn không hội đủ điều kiện hay tự nguyện hồi hương để có một kiến thức về tiểu thương-small business, hầu khi trở lại Việt Nam có thể hội nhập lại vào xă hội. Mỗi người đi học, cũng sẽ nhận lănh được một món tiền nhỏ.

Năm 1991, tôi được định cư tại tiểu bang California, và làm việc cho cơ quan Asian American for Community Involvement (AACI) với chức vụ substance abuse counselor trong chương tŕnh “cai nghiện rượu và thuốc lá.” Một hôm có anh bạn cùng khóa 6 Cảnh sát Quốc Gia với tôi cho xem một tấm ảnh đăng lên trên website, mục t́m người quen của trường nữ trung học Lê Văn Duyệt của một “cô bé” tên Hương. Trong tấm h́nh là ảnh của tôi, của Nguyễn Xuân Dục, của Nguyễn Văn Đệ, của Phan Ngọc Long, của Ngô Nguyên Trực, và của Tôn Long Thạnh chụp hồi chúng tôi c̣n là sinh viên sĩ quan Hải Quân Khóa 20, đang thụ huấn tại trung tân huấn luyện Quang Trung. Tấm ảnh này, bạn Nguyễn Xuân Dục đă tặng cho “cô bé nữ sinh Lê Văn Duyệt mang tên Hương” trước ngày cô đi du học ở Úc Châu. Nhờ tấm h́nh này mà tôi đă t́m về lại được với khóa 20 sau bốn mươi năm xa cách. Xin cám ơn Hương, cám ơn người bạn thuở xa xưa đă bắt một nhịp cầu cho chúng ta được gặp lại nhau.

Tôi cũng xin cám ơn nước Pháp, nước Mỹ đă cho tôi sự tự do, những cơ hội, cơ hội được học hành, cơ hội được đối xử b́nh đẳng, cơ hội kiếm công ăn việc làm… Tôi mang món nợ này với xă hội, với cộng đồng, và lối xóm tôi đang sinh sống. Tôi chỉ c̣n một cách đền trả là bằng sự sống lương thiện của tôi, làm việc hăng say, giáo dục con cái thành người hữu dụng trong tương lai.

Món nợ thứ hai là món nợ t́nh cảm, t́nh cảm của các anh em cùng khóa 20 sinh viên sĩ quan Hải Quân, và khóa 6 Cảnh Sát Quốc Gia đă dành cho tôi khi tôi đă t́m để về lại với các bạn. Xin cám ơn các bạn, xin cám ơn t́nh bạn sau bao nhiêu năm xa cách nhưng vẫn không bị phai mờ!

San Jose, tháng 6 năm 2007.

Nguyễn hữu Hải

 

 

CHUYẾN TÀU ĐỊNH MỆNH

 

Thời gian là một thần dược có thể xoa dịu những đớn đau của vết thương ḷng. Nhưng vết thương ba mươi tháng tư vẫn c̣n rỉ máu sau hơn ba mươi năm dài chữa trị. Người viết bài này xin nghiêng ḿnh nhận lỗi nếu đă khơi dậy một trong những niềm đau của dĩ văng.

Hồi Kư H.K.C

Hôm ấy là buổi sáng ngày 30 tháng 4. Trời không có nắng, mây mù rải rác có lúc che khuất ánh mặt trời. Hai chiếc duyên tốc đĩnh (PCF) của Hoan và tôi đang nằm trong ụ của căn cứ Đồng Tâm sau một chuyến công tác tuần pḥng trên sông Tiền Giang.

- Trung úy ơi, tàu của ông Hoan đang chuẩn bị đi. Trung úy tính sao?

- Thật sao! Các anh chờ tôi một chút.

Tôi trả lời hạ sĩ nhất trọng pháo Phương rồi vội vă chạy sang chiếc PCF của Hổ Cáp 2 Nguyễn ngọc Hoan đang cặp cùng cầu với chiếc duyên tốc đĩnh của tôi, cách khoảng vài chục thước.

- Trung úy Hoan có trong tàu không anh? Tôi hỏi một thuỷ thủ đang kéo ống dầu lên cầu tàu.

- Dạ, ông ấy lên Trung Tâm Hành Quân rồi.

- Lâu chưa?

- Chừng mười lăm phút, ông thầy.

Tôi quay trở về tàu của ḿnh, bước vào pḥng chỉ huy điều chỉnh âm thanh của chiếc máy PRC-25 cho lớn hơn rồi bật qua tần số của Trung Tâm Hành Quân Trần Hưng Đạo 44 gọi:

- "Hải Âu" đây "Sóng Bạc Đầu".

- "Sóng Bạc Đầu" đây "Hải Âu".

- Đây là hai lần tango của "Sóng Bạc Đầu", cho tôi nói chuyện với hai lần tango của "Sóng Ngầm".

"Sóng Ngầm" là ám hiệu của tàu Hoan, "Sóng Bạc Đầu" là tàu tôi, c̣n "Hải Âu" là ám hiệu của Trung Tâm Hành Quân, hai lần tango có nghĩa là hai chữ T, là thuyền trưởng.

- Ông thầy chờ một chút.

Chừng vài giây sau, tôi nghe tiếng của Hoan từ đầu máy bên kia, không c̣n giữ kín theo ám hiệu hành quân nữa:

- Mầy đó hả, Chiến?

- Đúng rồi, tụi mầy định đi hả? Tôi hỏi nó liền không ṿng vo.

- Phải đi thôi mầy ơi. Mầy chờ tao về tàu rồi ḿnh nói chuyện thêm.

Tôi buông chiếc ống nghe xuống, đầu óc hoang mang, lo lắng bước lên cầu tàu làm bằng những cai "pon-ton" nối lại với nhau, đi tới đi lui chờ đợi.

 

Hoan là sĩ quan trưởng toán của nhóm năm chiếc PCF thuộc Hải Đội 5 Duyên Pḥng, biệt phái từ căn cứ Năm Căn về yểm trợ cho Bộ Tư Lệnh Vùng 3 Sông Ng̣i. Hắn và tôi cùng xuất thân từ khóa 20 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang có tên là Đệ Nhị Hổ Cáp, sau này chúng tôi thường gọi nhau một cách thân mật là Hổ Cáp 2. Hôm tŕnh diện ở căn cứ Nhà Bè, khoảng 23 tháng 4 năm 1975 chúng tôi lại nhận được lệnh tách ra hai chiếc về căn cứ Đồng Tâm yểm trợ cho Bộ Tư Lệnh Hành Quân Trần Hưng Đạo 44 (số 44 này có thể không đúng). Chiếc PCF của tôi được Hoan chọn đi theo chiếc của nó di chuyển về căn cứ Đồng Tâm, gần thị xă Mỹ Tho ngay hôm đó.

Đơn vị trước của tôi là Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 6 Tuần Thám (LD6TT), lúc ấy đang phối hợp cùng Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Sông Ng̣i chỉ huy chiến dịch hành quân Trần Hưng Đạo 40, bản doanh đóng tại Cần Thơ, trại Yết Kiêu.

Gần cuối tháng 3 năm 75, tôi nhận được công điện thuyên chuyển về Hải Đội 5 Duyên Pḥng, Bộ Chỉ Huy đóng tại Năm Căn. Lệnh thuyên chuyển đến với tôi như một tiếng sét nổ ngang tai. Không ngờ một trong những diễn tiến quan-trọng trong đời binh nghiệp lại đưa đến cho tôi trong lúc này. Lúc mà t́nh h́nh chiến sự vô cùng căng thẳng cộng thêm sự lo lắng trong nội bộ gia đ́nh tôi. Vợ tôi đang mang thai và chúng tôi đang chờ đợi đứa con đầu ḷng ra đời trong ṿng vài ngày.

Buổi chiều hôm nhận được công điện thuyên chuyển, tôi về nhà rủ vợ đi ra ngoài ăn tối. Thấy tôi có vẻ trầm ngâm tư lự, vợ tôi hỏi:

- Sao anh có vẻ buồn vậy, có chuyện ǵ không hay phải không?

Tôi thở dài, lặng thinh một lúc rồi nói cho nàng biết mọi sự việc. Vợ tôi cũng bàng hoàng, sửng sốt không kém. Chúng tôi ngồi yên lặng thật lâu, nh́n mấy dĩa thức ăn đă trở nên nhạt nhẻo mà không buồn cầm đũa. Một lúc sau, nàng lên tiếng:

- Anh đừng lo cho mẹ con em, Lan chỉ mong anh cẩn thận nơi đơn vị mới. Lan nghe đồn nơi đó nguy hiểm lắm.

Tôi đưa tay nắm lấy tay nàng mà không trả lời. Nàng nói tiếp:

- Lan sẽ nhờ má và mấy em của Lan tiếp tay trong những ngày sinh nở.

- Lan định về Sài-g̣n sinh con hay sao?

- Chắc là như vậy, nếu anh phải đi trước ngày ấy.

Do sự may mắn, hoặc v́ con tôi muốn được ba bồng bế lúc chào đời mà hai ngày sau vợ tôi chuyển bụng và đứa con gái đầu ḷng của chúng tôi chào đời giữa ḷng Tây Đô, cái thị trấn cũng ồn ào nhộn nhịp không thua ǵ thủ đô Sài-g̣n hoa lệ. Ngày hôm sau HQ Thiếu tá Hồ Đấu, chỉ huy trưởng Liên Đoàn 6 Tuần Thám trao cho tôi tờ giấy phép một tuần nghỉ vợ sanh kèm theo sự vụ lệnh tŕnh diện Bộ Tư Lệnh Hải Quân sau đó, chờ phương tiện tân đáo đơn vị mới. Nhờ những ngày phép ấy, tôi có cơ hội quanh quẩn trong bệnh viện bên cạnh giường sanh với mẹ con nàng. Lần đầu tiên tập tành làm cha, nuôi vợ sanh tôi có cái cảm giác kỳ kỳ, ngồ ngộ – vừa vui mừng, vừa mắc cỡ. Tôi đă cố làm mọi việc từ pha sữa cho con bú, giặt tă đến đi chợ nấu ăn. Tôi đă nấu món thịt kho tiêu ăn với hành lá luộc mà bà ngoại của con tôi khuyên.Tôi đă cố giữ cho ḿnh bận rộn suốt ngày để không c̣n th́ giờ nhớ đến những ǵ đang chờ đợi ở những ngày sắp đến. C̣n lại vài ngày phép cuối, chúng tôi khăn gói về Sài-g̣n tá túc bên gia đ́nh vợ, nhờ ba má và mấy đứa em nàng phụ giúp.

Chiếc C130 chở tôi đến tŕnh diện đơn vị mới đáp xuống phi trường An Thới, Phú Quốc nơi có gần một nửa lực lượng của Hải Đội 5 Duyên Pḥng tạm dừng quân và yểm trợ cho Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải từ đầu tháng 4 năm 75. Tôi làm mọi nghi thức tŕnh diện đơn vị mới ngay ở đó luôn. Mấy ngày sau, cả phân đội duyên tốc đĩnh kéo về căn cứ Năm Căn theo lệnh di chuyển của Bộ Tư Lệnh.

Đă từ lâu nghe danh “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh”; bây giờ tôi mới thực sự có dịp nếm mùi, mặc dù mới chỉ có phân nửa đầu cái đặc sản ấy của Năm Căn. Những ngày nằm tại căn cứ, đêm đêm bọn chúng tôi kéo ra khu gia binh, t́m vào mấy quán nhạc ngồi đuổi muỗi bên cạnh ly cà phê mà cố thả hồn theo những lời ca ai oán! Tuổi trẻ của chúng tôi thời ấy thật là lạ lùng, tội nghiệp. Chúng tôi lặn ngụp giữa chiến tranh, tàn phá, chết chóc, chia ly hoà lẫn với nhạc vàng, với đam mê ray rứt, mà không cần biết đến tương lai, mặc cho nó có mịt mù hay tươi sáng ra sao cũng cam chịu. Cuộc chiến sôi sục của tháng tư đă đưa chúng tôi trở lại gần với thành phố. Năm chiếc PCF rời căn cứ Năm Căn trực chỉ Nhà Bè trong những ngày cuối tháng tư hải hùng ấy.

Hoan và một người nữa cùng đi xuống cầu hướng về tàu của chúng tôi. Tôi tiến tới gần mới nhận ra người thứ hai là Hổ Cáp 2 Mai ngọc Oanh.

- Tàu của mầy c̣n nhiều dầu không? Hoan hỏi tôi.

- C̣n khoảng phân nửa.

- Mầy cho mấy thằng em lấy đầy đi.

- Dễ thôi, nhưng ḿnh sẽ đi đứng làm sao?

- Chiến ơi, sống không nỗi với tụi cộng sản đâu.

Thằng Oanh chêm vào rồi nói tiếp:

- Gia đ́nh chúng tao không chịu nỗi nên đă bỏ chạy vào Nam năm 54, mầy nghe tao mà chuẩn bị lên đường. Cứ đi ra ngoài hải phận quốc tế sau đó sẽ bắt liên lạc với các chiến hạm của Sài-g̣n rồi tính tiếp.

Oanh là sĩ quan trực của Trung Tâm Hành Quân Trần Hưng Đạo 44, nó định cặp theo tàu của Hoan mà đào thoát. Nó tiếp:

- Tướng Nguyễn khoa Nam ra lệnh tử thủ, nhưng mấy ông lớn đă bỏ chạy hết rồi. Tao nằm ở Trung Tâm Hành Quân nên biết rơ lắm. Ḿnh ở lại để làm ǵ, đánh đấm bằng cách nào, chỉ có chờ chết.

- Tao tin tụi mầy. Tụi mầy chờ tao lấy thêm dầu nghe.

Tôi nói, rồi trở về tàu của ḿnh nói với trung sĩ cơ khí Hải:

- Ḿnh chuẩn bị di tản ra biển khơi, anh Hải làm ơn lo việc lấy thêm nhiên liệu.

- Lấy đầy vô cả bụng luôn nghe ông thầy. Hải hỏi lại tôi

- Tùy mấy anh, làm sao được th́ cứ làm.

Tôi trả lời mà không suy nghĩ.

Không thể đứng yên chờ đợi, tôi trở qua tàu của Hoan và Oanh. Cả hai đang nghe tin tức trên radio và liên lạc vô tuyến với các đơn vị bạn.

- Tướng Minh ra lệnh buông súng rồi. Ḿnh phải đi lẹ thôi. Oanh cho tôi biết.

- Thiệt hả? Sao lẹ quá vậy.Tôi ngơ ngác hỏi lại.

- Bao lâu nữa tàu mầy lấy xong dầu?

- Chừng nửa giờ nữa.

 

Hoan quay qua cho biết nó đă bắt liên lạc được với chiếc Trợ Chiến Hạm Lưu Phú Thọ, HQ229 thuộc Bộ Tư Lệnh Hạm Đội đang trên đường tiến ra cửa Tiểu từ hướng Bắc Mỹ Thuận (Tôi có thể lầm với chiếc Đoàn Ngọc Tảng HQ228). Hạm trưởng cho biết đă liên lạc được với Bộ Chỉ Huy của đoàn chiến hạm ra đi từ Bộ Tư Lệnh ở bến Bạch Đằng. Đoàn tàu Hải Quân sẽ gặp nhau ở tụ điểm đảo Côn Sơn, rồi định hướng đi tiếp tới đảo Guam hoặc căn cứ Subic Bay, Phi luật Tân. Ông cho biết thêm là c̣n khoảng 30 phút nữa tàu của ông sẽ đi ngang qua căn cứ Đồng Tâm, nên yêu cầu chúng tôi giữ tầng số này để liên lạc mà tháp tùng với tàu của ông đến Côn đảo. Cả hai thằng Hoan và Oanh đều hối tôi trở về tàu coi việc lấy dầu tới đâu.

Tôi chạy trở về tàu của ḿnh, thấy ống dẫn dầu c̣n bắt vào tàu vội lớn tiếng hỏi:

- Gần xong chưa anh Hải ơi?

- Dạ c̣n đổ thêm vô bụng một chút nữa.

- Tôi nghĩ chắc đủ rồi đó anh. Ḿnh lo tắt ṿi và kéo ống đi.

- Dạ, ông thầy.

Thuỷ thủ đoàn trong tàu thường gọi các sĩ quan bằng "ông thầy", nghe thấy có một chút ǵ quen quen và gần gũi mặc dầu không đúng với cách xưng hô trong quân ngũ. Chúng tôi ngầm chấp nhận mà không bao giờ đính chánh.

Hôm ấy là lần đầu tiên ,và cũng là lần cuối cùng! – chúng tôi lấy dầu từ căn cứ mà không cần phải chờ công điện, hay kư nhận ǵ cả.

Hơn nửa giờ sau, hạm trưởng HQ229 lên máy cho biết chiếc Trợ Chiến Hạm của ông sắp tiến ngang căn cứ Đồng Tâm. Chúng tôi tháo dây buộc tàu và nổ máy tiến ra cửa ụ chờ đợi. Từ xa cách vài trăm thước, con cá mập màu đen ấy đang lù lù tiến đến. Tôi nh́n lên sàn tàu thấy thuỷ thủ đoàn đều mặc áo giáp, đầu đội nón sắt tay ôm súng ở vào vị trí sẵn sàng chiến đấu, một số khác th́ ứng chiến ở các khẩu đại pháo và đại liên. Thấy t́nh t́nh có vẻ nghiêm trọng nên tôi ra lệnh cho thuỷ thủ đoàn của tàu ḿnh cũng làm như vậy.

Chiếc PCF của Hoan và Oanh tiến lên trước nối đuôi với con cá mập đen ấy. Tàu của tôi đi theo sau. Tôi không biết v́ Hoan là trưởng toán hay v́ bản tánh chậm chạp mà tôi để cho tàu của Hoan dẫn trước, chắc là cả hai. Qua hệ thống vô tuyến, hạm trưởng HQ229 cho biết là chiến hạm của ông sẽ dẩn đầu đưa chúng tôi ra cửa Tiểu rồi sẽ lấy hướng gia nhập vào đoàn "convoy" từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Hiện thời đoàn tàu ấy đă ra khỏi cửa Soài Rạp và đang trên đường hướng về đảo Côn Sơn.

Mặt trời đă lên cao, tôi đoán có lẽ cũng đă giữa trưa. Tôi không buồn nh́n vào chiếc đồng hồ, mặc dù nó đang nằm ở cổ tay của ḿnh. Thời gian đối với tôi lúc này thật là hỗn độn và vô nghĩa. Nh́n lên hai bờ sông, tôi vẫn thấy những ngôi nhà yên ấm ấy, cũng với những khóm cây lao xao trước gió êm đềm, không như tưởng tượng của tôi về một sự thay đổi nào đó đang diễn ra. Người đi lại trên bờ sông thưa thớt, dưới nước cũng ít thấy ghe, xuồng. Cái cảnh vật im ắng ấy như đang tạo nên một bức màn thưa che giấu một biến động đang ngấm ngầm sôi sục. Tôi không hiểu cuộc hành tŕnh này sẽ dẫn ḿnh tới đâu, tại sao lại bỏ chạy? Lực lượng quân sự vùng Tây Nam của chúng tôi chưa đụng độ với tụi Việt Cộng trận nào đáng kể mà đă chịu thua, rồi chuyện ǵ sẽ xảy ra tiếp?

Gần đến thị xă Mỹ Tho, tôi chợt thấy dưới bờ sông có một nhóm người đang vẫy tay. Con cá mập đen và tàu của Hoan đă lờ và lướt đi qua. Tôi chụp chiếc ống ḍm để nh́n cho kỹ hơn. Tôi thấy gần chục người, đàn ông lẫn đàn bà và có cả trẻ con. Có vài người mặc quân phục Việt Nam Cộng Hoà. Họ đang ra tay vẫy và kêu gào. Tôi đoán họ đang cần giúp đỡ hay muốn tháp tùng với chúng tôi.

Trung sĩ cơ khí Hải lên tiếng:

- Ông thầy, ḿnh ghé vô rước họ không?

Một câu hỏi lướt nhanh trong trí tôi:

"Ḿnh có đủ th́ giờ để đuổi theo đoàn cá mập không?"

- Tội nghiệp họ mà ông. Hải nói tiếp mà không chờ tôi trả lời.

Tôi thấy lương tâm của ḿnh bị đánh thức trước cái t́nh cảm b́nh dị mà mặn mà của người thuỷ thủ. Tôi nghĩ nếu tăng vận tốc th́ vẫn c̣n có thể đuổi kịp đoàn tàu đi trước, liền ra lệnh:

- Ghé vô... Ghé vô. Hải lập lại giọng hăng hái.

Như chúng tôi đoán, họ là những người lính địa phương quân đưa vợ con ra hướng bờ sông t́m đường chạy nạn. Chúng tôi giúp kéo họ và đưa một số bao bị nhỏ lên tàu.

Lúc ngang qua Căn Cứ Hải Quân Mỹ Tho th́ tàu của tôi đă ghé vào bờ thêm vài lần nữa để tiếp đón thêm hơn mười người gồm cả thường dân, nhân viên chính quyền và gia đ́nh họ. Tổng cộng số người chạy theo chúng tôi đă lên hơn hai mươi.

Qua khỏi thị xă Mỹ Tho một đoạn, hạ sĩ nhất trọng pháo Phương tay ôm khẩu M16 đến gần tôi nói nhỏ:

- Ḿnh không chuẩn bị ǵ hết cho chuyến đi này, kể cả phần ẩm thực. Trên tàu hiện tại có gần ba chục miệng ăn. Không biết tàu ḿnh phải lênh đênh trên biển cả bao lâu.

- Ông thầy tính sao?

Trong lúc tôi c̣n đang bối rối trước trước vấn đề Phương đưa ra th́ hắn lại nói tiếp:

- Để tụi em lo cho, chỉ xin ông thầy làm ơn giữ im lặng giùm.

Tôi không biết Phương định làm ǵ nên không trả lời. Từ lúc sáng đến giờ, đă nhiều lần tôi hành động mà không suy nghĩ. Tôi đă trở thành kẻ thụ động trong hầu hết mọi quyết định.

Chiến sự nóng bỏng, cùng với những cuộc di tản chiến thuật dồn dập bắt đầu từ mấy tuần trước đây đă ảnh hưởng không ít đến tinh thần và sự suy nghĩ của tôi. Tôi cảm thấy phân vân, nghi ngờ và e-ngại cho t́nh h́nh an ninh của miền Nam Việt Nam. Nhưng lệnh buông súng đầu hàng của tướng Minh đến với tôi sáng hôm nay thật là bất ngờ. Sao dễ dàng quá vậy! – Tôi lại vẫn không tin là sự thật. Tôi vẫn nghĩ rằng lực lượng miền Nam c̣n có cơ hội lật ngược t́nh thế được như ḿnh đă làm trong Tết Mậu Thân năm 1968 và mùa hè đỏ lửa của năm 1972, hoặc tệ lắm cũng có thể kéo dài trận chiến thêm cả năm nữa. Tôi cũng đặt một chút tin tưởng vào sự trợ giúp của lực lượng quốc tế. Than ôi! Người bạn đồng minh Hoa Kỳ đâu rồi?!

Một loạt súng nổ gịn tan và chát chúa như sát bên tai kéo tôi trở về với hiện tại. Tôi vội quay qua t́m kiếm và phân định. Th́ đúng là sát bên tai thật. Tiếng súng ấy phát xuất từ khẩu M16 trên tay hạ sĩ nhất Phương. Hắn đang đứng ở mũi tàu, tay mặt ôm khẩu súng c̣n đang bốc khói tay trái th́ đưa lên cao ngoắt lia, ngoắt lịa một chiếc tàu đ̣ đang chạy từ phía bờ bên kia, ngược chiều về hướng thị xă Mỹ Tho.Tôi đoán, có thể là tàu đ̣ chở khách di chuyển từ làng xă về thành phố như mọi ngày.

Tôi bước ra sân trước, nơi Phương đang đứng chờ. Hắn gọi tàu đ̣ để làm ǵ? Tôi tự hỏi thầm. Có ai muốn xuống tàu đ̣ để quay trở lại hay sao? Tôi nh́n chiếc tàu đ̣ giảm vận tốc, từ từ đổi hướng trực chỉ về phía tàu của chúng tôi.

- Ngừng máy đi anh Hải. Phương yêu cầu trung sĩ Hải, lúc đó đang đứng trong pḥng lái.

- OK, Hải trả lời.

Tôi định lên tiếng hỏi, nhưng nhớ lại lời yêu cầu của Phương nên kịp giữ lại. H́nh như hiểu ngầm được sự thắc mắc của tôi,

Phương nói:

- Ông thầy đừng lo, tụi em không làm ǵ quá đáng đâu.

Tôi theo dơi t́nh h́nh và hành động của Phương mà không trả lời.

Lúc chiếc tàu đ̣ tiến gần sát vào tàu chúng tôi, hắn ra hiệu cho tài công để điều chỉnh phương hướng. Chờ cho hai mũi tàu ngang nhau, hắn ôm súng nhảy qua chiếc tàu đ̣. Trung sĩ Hải bước ra sân mũi kêu Phương ném sợi dây cột từ mũi chiếc tàu đ̣ qua rồi buộc vào cái “tắc kê” của tàu chúng tôi. Xong xuôi Hải cũng phóng qua, rồi cả hai chui vào trong khoang nơi có hành khách ngồi. Tôi đứng nh́n theo, dạ bồn chồn.

Khoảng hơn năm phút sau, Hải ló đầu ra trước tướng đi lọm khọm. Hắn vác trên vai một bao chỉ xanh to tướng. Phương cầm súng đi theo sau, tới gh́ sợi dây buộc cho mũi hai chiếc tàu cặp sát vào nhau. Hải vác cái bao bố trở về duyên tốc đĩnh trước, ném xuống sân mũi. Phương theo sau, mở dây buộc ném trở về chiếc tàu đ̣ rồi phẩy tay ra hiệu cho chiếc tàu đ̣ lái đi.

Cả hai tiến gần lại tôi nói nhỏ:

- Không t́m thấy cái ǵ khác để ăn được hết trung úy ơi. Tụi em lấy đỡ cái bao gạo chỉ xanh này thôi.

- Lấy của người ta hả? Tôi gằn giọng, rồi hỏi tiếp:

- Mấy anh có trả tiền cho người ta không?

- Dạ em có để lại một tờ thánh Trần.

- Năm trăm đồng, có xứng giá với cái bao chỉ xanh ấy không?

- "Ngộ biến phải tùng quyền" mà ông thầy.

Phương bào chữa.

Tôi đứng lặng người, lắc đầu. Mọi việc diễn ra một cách chớp nhoáng làm cho tôi không kịp trở tay. Tôi nh́n theo chiếc tàu đ̣ đă quay đầu đi một đoạn, tiếng máy nổ thật to như cố trốn chạy cho nhanh. Thật không ngờ, hôm nay chúng tôi trở thành những tên cướp biển. Tôi nh́n lại bộ quân phục trên người mà cảm thấy hổ thẹn.

- Ông thầy đừng có khó chịu, không lẽ để cho gần ba mươi người trên tàu chịu chết đói.

Phương phân trần, và tiếp:

- Tụi em làm, để tụi em chịu hết cho.

- Tôi không định đổ lỗi cho các anh đâu, có điều việc này quá bất ngờ nên tôi không cảm thấy an tâm. Thôi, ḿnh đi tiếp kẻo bị bỏ lại quá xa.

Không sao đâu ông thầy, tốc độ tàu ḿnh nhanh hơn chiếc 229 th́ đuổi theo mấy hồi.

Chúng tôi tăng vận tốc để cố đuổi theo nhóm tàu của Hoan, Oanh và chiếc HQ229. Nhưng chỉ mấy phút sau, Hải lại bước đến gần tôi và nói:

- Trung úy để cho tụi em thử một lần nữa nghe.

Thấy tôi im lặng như ngầm đồng ư, Phương bước ra phía mũi tàu rồi nổ một tràng M16 khác lên trời. Tôi nh́n về phía trước xéo bên kia bờ sông thấy một chiếc ghe chài to tướng, loại thương buôn hay dùng để chở cát, đá đang chạy ngược lại. Nghe tiếng súng, chiếc ghe chài vội giảm tốc độ và quay mũi về phía tàu chúng tôi khi thấy Phương đứng ngoắc ở sân trước.

Thôi đúng ḿnh là hải tặc rồi, c̣n ǵ nữa. Tôi tự nói với ḿnh và ngại ngùng ngồi yên trong pḥng chỉ huy.

- Ghe chở ǵ vậy chú. Phương lên tiếng hỏi người đàn ông đứng trước mũi ghe.

- Dạ chở dưa hấu. Ông ta đáp:

Nói xong người đàn ông ấy giở tấm vải bố thật dầy, kéo ra phía sau. Thật toàn là dưa hấu. Những trái dưa xanh tṛn bằng một ṿng ôm của trẻ con nằm đầy ắp cả khoang ghe.

- Mấy cậu lấy vài trái ăn thử, dưa ngọt lắm.

- Chú c̣n chở ǵ khác nữa không?

- Dạ không.

- Thôi cám ơn, chú đi đi.

Tôi thở ra một tiếng dài, chờ chiếc ghe đi được một khoảng rồi quay mũi tăng tốc độ tàu ḿnh hướng ra cửa Tiểu. Tội nghiệp cho người dân lương thiện, cuộc sống đă mất an mà c̣n phải gánh chịu nhiều điều khốn khó, áp bức. Có phải chiến tranh đă mang lại những tệ nạn đó không! Thôi th́ cứ đổ lỗi cho nó đi.

Qua hệ thống vô tuyến, chúng tôi nối lại liên lạc với HQ229 và tàu của Hoan. Được biết cả hai c̣n cách cửa Tiểu khoản 2 hải lư.

- Mầy làm ǵ mà bị tuột lại sau hơi xa vậy? Hoan hỏi tôi.

- Tao phải ghé vào rước thêm một số dân chạy nạn.

Tôi cảm thấy tai và mặt ḿnh đỏ bừng lên v́ đă giấu nó cái đoạn làm hải tặc bất đắc dĩ vừa qua. Kệ, "ngộ biến phải tùng quyền' mà! Sau này có dịp, ḿnh sẽ chuộc lại lầm lỗi này. Nhưng cái dịp mà tôi mong chờ đó đă không bao giờ đến.

Càng tiến gần ra cửa biển, gió thổi càng mạnh. Tôi đă không c̣n nhớ đến cái thú vị và sự khoan khoái khi hít thở vào những làn không khí trong mát ấy. Trong tiếng gió vi vu ḥa lẫn với tiếng sóng biển ŕ rào. Có tiếng máy bay trực thăng vang vọng, lúc ồn ào, lúc văng vẳng xa xa. Tôi không nghĩ những chiếc trực thăng đó đang tham dự vào một cuộc hành quân nào, nhưng đoán là của các cấp chỉ huy đang t́m đường trốn chạy như tôi. Nh́n lên trời, tôi mong t́m thấy một câu trả lời trái ngược với sự suy nghĩ bi quan của ḿnh. Thế nhưng tôi hoàn toàn thất vọng, v́ tiếng trực thăng ấy nhỏ dần, nhỏ dần và mất hút về phía biển khơi.

Ba mươi phút sau, tôi nh́n thấy hai chấm đen ng̣m nơi cửa biển, một cái to của HQ229 dẫn trước và cái chấm nhỏ hơn của chiếc duyên tốc đĩnh Hoan và Oanh theo sau. Thêm nửa giờ nữa th́ tàu tôi đă bắt kịp với HQ229 và tàu Hoan. Ra khỏi cửa Tiểu chừng mười hải lư, đoàn tàu chúng tôi đổi về hướng Đông Nam, trực chỉ đảo Côn Sơn.

Biển vẫn xanh, sóng vỗ hiền ḥa nhưng trong ḷng tôi lại cồn cào v́ những cơn sóng của chiến sự, của lo âu, của bối rối. Tôi cũng không biết rơ ḿnh đang lo lắng về điều ǵ, chỉ nhận ra là ḿnh đang hoang mang và mất định hướng.

- Mọi người trong tàu b́nh yên hả anh Hải. Tôi hỏi một câu bâng quơ để phá tan sự im lặng.

- Dạ, ông thầy.

Tôi cảm thấy cổ họng hơi nghẹn nên nuốt một miếng nước bọt, mới biết miệng ḿnh đắng, giọng nói khàn đi mặc dù chưa la hét một tiếng nào từ lúc ban sáng.

- Anh Hải làm ơn lấy cho tôi một ly nước. Tôi hỏi

- Dạ, có liền ông thầy

Lúc ấy khoảng hai giờ chiều, chưa ai trong bọn tôi ăn một miếng cơm vậy mà vẫn không thấy đói.

- Ḿnh sắp bắt kịp với đoàn tàu lớn ra đi từ Bộ Tư Lệnh, Chiến nghe rơ không trả lời!

- Rơ, tao cũng nghe được tin tức đó trên máy.

Tôi đáp lời Hoan

The sự dự phỏng của Hoan và tôi, chừng một giờ nữa chúng tôi sẽ nhập đoàn với những con cá mập ấy.Từ hướng Đông Nam, tôi nh́n thấy khoảng hơn một chục chấm đen lớn có, nhỏ có. Cầm chiếc ống ḍm lên, nh́n xuyên qua các lăng kính tôi nhận ra cái chấm đen lớn nhất là một chiếc dương vận hạm (LST).

- Chiếc dương vận hạm nào vậy, mầy thấy được số không? Tôi hỏi Hoan

- Không thấy rơ. Để tao đổi tần số hỏi xem.

Sau một hồi liên lạc với nhau trên hệ thống vô tuyến, chúng tôi được biết đó là chiếc Dương Vận Hạm Thị Nại HQ502. Nơi có một bộ chỉ huy triệt thoái nhỏ của Bộ Tư Lệnh Hải Quân đặt bản doanh. Trên chiếc HQ502 có một số đông tướng, tá của đủ mọi quân binh chủng. Kể từ giờ phút ấy, chúng tôi giữ liên lạc để nhận chỉ thị từ chiếc Dương Vận Hạm Thị Nại.

Khi gần nhập đoàn với những con cá mập, Hoan và tôi được lệnh cặp vào chiếc Thị Nại, chuyển người lên và đánh ch́m tàu để hủy bỏ, c̣n chiếc HQ229 th́ vầy đoàn ra Côn Sơn. Chúng tôi tăng vận tốc để bám vào chiếc 502. Mới đầu hạm trưởng 502 ra lệnh cho chúng tôi cặp vào đuôi tàu, nhưng lúc tiến sát vào th́ bị sóng cuộn lên từ sau lái đẩy ra rồi hút vào rất mạnh, có lúc duyên tốc đĩnh của chúng tôi đập mạnh vào sườn 502 rất nguy hiểm. Hạm trưởng bèn chỉ thị cho chúng tôi đổi sang cặp vào hông phải của HQ502. Ông cho tàu giảm tốc độ và tạm thời đổi hướng để hông bên phải được êm sóng hơn. Hoan cho tôi biết nó sẽ cặp vô trước, rồi hướng mũi chiếc duyên tốc đĩnh của nó vào nơi có chiếc thang dây vừa được thả xuống. Lần này nó vào êm hơn nhiều. Một thủy thủ quăng dây lên chiếc 502 để được buộc giữ vào cho sát.

Tôi nh́n lên, thấy sàn chính của chiếc Thị Nại khá đông người. Nơi giữa sân có một chiếc trực thăng của không quân đáp trên đó. Mọi người trên HQ502 đổ xô về bên hông phải, nơi chúng tôi đang cặp tàu vào. Thằng Hoan là người leo lên thang dây trước. Túi hành lư của nó được các thủy thủ của chiếc 502 dùng dây kéo lên. Tiếp theo là Oanh, rồi lần lượt đến các thủy thủ. Cái cảnh tay bắt mặt mừng lại diễn ra náo nhiệt trên sân chính của HQ502. Tôi không thấy được rơ những ai trên đó lúc này, nhưng độ chừng chắc cũng phải có các bạn bè thân quen hay cùng khóa.

Chờ cho người trên tàu Hoan lên hết tàu lớn, chúng tôi mới cặp chiếc duyên tốc đĩnh của ḿnh vào cạnh chiếc của Hoan. Phương bước ra sân mũi, lấy dây buộc vào tàu của Hoan rồi trở vào nói: - Ông thầy lên trước đi.

Tôi xách hai cái túi hành lư của ḿnh đi ra sân trước, đưa mắt nh́n theo chiếc thang dây từ dưới lên tận sân chính. Mắt tôi bắt gặp một vài gương mặt quen thuộc. Tôi nhận ra trong đó có Hổ Cáp 2 Hoàng kim Công, Đệ Nhị Nhân Mă Nguyễn hữu Tuấn. Tuấn ra trường khóa 21, có thời gian phục vụ gần hai năm cùng đơn vị với tôi trên chiếc HQ474. Cả hai mừng rỡ giơ tay lên vẫy tôi và chờ đợi.

Tôi bước tới chiếc thang dây định leo lên, th́ trên ấy bổng trở nên ồn ào. Rồi cả Tuấn lẫn Công bị vẹt ra một bên. Một nhóm năm người mặc quân phục bộ binh và TQLC mang áo phao màu cam chiếm lấy chiếc thang dây, lần lượt tuột xuống rồi nhẩy lên chiếc duyên tốc đĩnh của Hoan đang bỏ trống. Tôi buông hai cái túi xách xuống nh́n cảnh tượng ấy với một loạt câu hỏi diễn ra trong đầu ḿnh.

- Có chuyện ǵ vậy? Trên ấy không được an ninh sao? Có người làm loạn chăng?

Tôi nhớ lại tin tức về các cuộc nổi loạn xảy ra trên vài chuyến tàu di tản từ miền Trung về Vũng Tàu, Phú Quốc nên nảy ra những thắc mắc ấy. Không chờ đợi thêm, tôi lên tiếng hỏi:

- Có chuyện ǵ không hay xảy ra trên đó phải không các anh?

- Dạ không! Trên đó an toàn lắm.

- Vậy các anh xuống đây làm ǵ?

- Chúng tôi muốn quay trở lại Sài-g̣n.

- Sao vậy?

Lúc sáng nay, sau khi nghe lệnh buông súng của tướng Minh, tôi đă vội t́m đường bỏ chạy vào Bộ Tư Lệnh Hải Quân và được hướng dẫn lên tàu HQ502 này để di tản. Mấy thằng này cũng như tôi vậy, tụi nó từ Bộ Tư Lệnh TQLC, Biệt Động Quân ...

Một người trong nhóm năm người đó trả lời tôi và đưa tay chỉ về những người kia, rồi tiếp:

- Tụi tôi bỏ chạy trong lúc hỗn loạn, chỉ mong sao được thoát thân một cách an toàn. Nhưng đến bây giờ ngồi nhớ lại mới hay là ḿnh đă bỏ lại gia-đ́nh, vợ con ở Sài-g̣n. Con tôi c̣n nhỏ lắm, tôi nhớ nó. Tôi muốn trở lại với vợ con gia đ́nh, dầu cho cực khổ tới đâu hay sống chết như thế nào mà cùng có với nhau th́ cũng cam chịu.

- Tụi tôi cũng như vậy đó trung úy.

Những người khác cùng lên tiếng

- Thôi tụi tôi đi, chúc trung úy may mắn.

Nói xong, họ mở dây từ tàu lớn cột sang tàu tôi, tháo dây tàu của họ rồi nổ máy lùi ra và quay đầu trở lại hướng về đất liền.

Tôi đứng thừ người ra, những lời nói của họ như một gáo nước lạnh tạt vào mặt làm tôi như tỉnh lại sau một cơn mê. Trường hợp của tôi có khác ǵ họ đâu. Tôi cũng đang bỏ lại sau lưng vợ con ḿnh. Con tôi c̣n quá bé, mới có hơn một tháng. Tôi chợt thấy bóng dáng vợ tôi đang bồng con thơ đứng ở hiên cửa dơi mắt ngóng trông. Tôi cảm thấy nhớ mẹ con nàng kinh khiếp. Không thể được, tôi không thể trốn chạy để t́m sự an toàn cho một ḿnh tôi được. Thảo nào từ ban sáng đến giờ tôi cảm thấy lo lắng, bồn chồn không suy nghĩ được điều ǵ cho ra lẽ. Bây giờ th́ tôi mới biết cái mối dây t́nh cảm vô h́nh ấy nó đang khấy động tâm hồn ḿnh.

Tôi xách hai cái túi bước trở vào bên trong ca-bin của duyên tốc đĩnh nơi mọi người đang chờ đợi đến lượt ḿnh để tiến ra chiếc thang dây, mặc cho tiếng kêu của Nguyễn hữu Tuấn và Hoàng kim Công từ sàn chính của HQ502:

- Ô ḱa Chiến! c̣n trở vào làm ǵ?

Tôi thuật lại câu chuyện của nhóm năm người cho mọi người trong tàu nghe, rồi kết luận:

- Hoàn cảnh của tôi cũng giống họ, tôi quyết định trở về với gia đ́nh. Các anh chị và mọi người leo lên tàu lớn đi, đi. Tôi sẽ lái tàu trở lại một ḿnh.

Mọi người im lặng, không ai nói một lời nào và cũng không có ai bước ra chiếc thang dây.

Một lúc sau, trung sĩ Hải lên tiếng trước:

- Trung úy lái về một ḿnh được không?

- Các anh đừng lo, tôi biết khá nhiều về hải tŕnh và các cửa biển ở khu vực này. Tôi có thể t́m đường về Sài-g̣n được.

Sau một phút im lặng khác, Phương nói:

- Ông thầy trở lại th́ em cũng đi theo ông thầy - Tôi cũng đi theo trung úy, sống chết có vợ con! Hải tiếp lời.

Tôi hướng về những quân nhân, thường dân và gia đ́nh họ, những người được tàu tôi rước trên đường chạy ngang qua Mỹ Tho.

- C̣n các anh chị, chuẩn bị lên tàu lớn đi.

Mọi người nh́n nhau, rồi một người trong nhóm đó lên tiếng:

-Trung úy trở về th́ tôi cũng đi theo ông.

-Dạ tôi cũng vậy, nghe thuyền trưởng nói cũng phải.

Rồi họ thay nhau lên tiếng đ̣i theo tôi trở lại hết.

Thật là bất ngờ, cái thành ngữ "follow the leader" hay tạm gọi là "theo người hướng đạo" lại được mọi người hưởng ứng mạnh mẽ trong lúc này.

Tôi đă không có th́ giờ để suy xét xem rồi t́nh h́nh sẽ diễn biến trong những ngày sắp tới ra sao. Tôi cũng đă không cần biết là quyết định của ḿnh đúng hay sai, mà chỉ thấy sự đ̣i hỏi được trở lại đoàn tụ với gia đ́nh là hơn hết, bất chấp mọi hiểm nguy hay tương lai đen tối đang chờ đợi. Tôi cũng không có ư định lôi kéo những người khác đi theo đường của ḿnh. Nhưng vô t́nh tôi đă gây ảnh hưởng đến sự lựa chọn của họ.

Đă hơn ba mươi năm, những người trong chuyến tàu định mệnh ấy có những ai c̣n sống sót lại. Bây giờ họ đang ở đâu? Có mạnh khỏe, b́nh yên hay không? Có ai trong họ đă trách mắng và nguyền rủa cái quyết định điên rồ của tôi trong lúc ấy không? Cái quyết định đă đưa cả nhóm vào gông cùm của Cộng sản, hủy hoại cuộc sống, tương lai của họ và của cả chính bản thân tôi.

Tôi cho mở dây buộc tàu và quay mũi trở về đất liền, trước những cặp mắt ngơ ngác từ HQ502 nh́n theo. Mười lăm phút sau, chúng tôi đuổi kịp chiếc PCF kia, chiếc duyên tốc đĩnh mang theo năm người từ HQ502 tuột xuống.

- Các anh biết đường về không? Tôi lên máy hỏi họ.

- Trong bọn tôi có một anh người nhái, nên cũng biết chút ít.

- Mấy anh định ghé vào đâu?

- Tụi tôi định vào tới đất liền th́ bỏ tàu lên bờ ngay.

- Các anh có muốn tháp tùng với tôi về Sai g̣n không? Tôi sẽ dẫn đường.

- Dạ để vào gần bờ rồi tính tiếp.

- Tùy mấy anh.

Mặt trời đă xuống thật thấp, c̣n hơn một sào nữa th́ sẽ mất hút dưới đường chân trời bờ tây. Hai chiếc PCF của chúng tôi vẫn chạy sóng đôi. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp thêm những chiến hạm khác của Hải Quân và cả thương thuyền đâm đầu ra biển cả. Trên tàu nào cũng thấy lố nhố người. Tôi đoán chắc họ cũng là tàu di tản t́m đường lánh nạn. Hai giờ sau, chúng tôi đă thấy dăy đất liền ló dạng trước mặt.

- Tôi sẽ vào cửa Soài Rạp, các anh có theo tôi không?

- Dạ, trung úy dẫn đường trước.

Tôi phỏng định vị trí của tàu ḿnh rồi đổi hướng nhắm vào cửa Soài Rạp.

Những chuyến hải hành trong thời gian phục vụ trên Dương Vận Hạm Qui Nhơn HQ504 và Hỏa Vận Hạm HQ474 đă cho tôi một số kinh nghiệm căn bản để nhận ra vùng biển quen thuộc này. Sau khi vượt qua hàng đáy đầu tiên, chúng tôi thấy một chiếc LCU của Hải Quân, loại duyên vận hạm nhỏ có thể chở được vài chiếc xe tank hoặc GMC từ trong sông Soài Rạp tiến ra cửa biển. Trên tàu đầy nghẹt cả người, nhưng không có một chiếc xe nào trên đó. Tôi nảy ra ư định t́m hiểu t́nh h́nh hiện tại ở Sài g̣n nên giảm vận tốc, cho tàu ḿnh tiến gần lại, sát với chiếc LCU ấy. Người di tản đầy cả sàn tàu. Thật đúng là không c̣n chỗ chen chân. Họ là quân nhân, thường dân, đàn bà, trẻ con và một số rất ít ông bà cụ lớn tuổi. Người hai bên tàu đổ dồn về một phía và họ thi nhau hỏi, đáp như một buổi nhóm chợ.

- Mấy anh từ đâu chạy ra vậy?

- Từ Sài-g̣n.

- Trong đó có yên không?

- Cũng lộn xộn chút đỉnh.

- Có thấy thằng Việt Cộng nào trong thành phố chưa?

- Tôi không thấy, nhưng nghe có tiếng súng nổ rời rạc.

- Thấy chiếc T54 nào của tụi nó không?

- Nghe nói, nhưng chưa thấy.

- Nhà anh ở đâu mà bỏ chạy?

- Ở Phú Nhuận.

- C̣n chị?

- Ở Sài-g̣n.

Tôi cũng tham gia vào trong cuộc hội thoại đó, hỏi anh thuyền trưởng của chiếc LCU:

- Từ Sài G̣n ra đến đây anh có gặp Việt Cộng không?

- Dạ không.

- Tàu anh có bị du kích bắn ra không?

- Không, thủy lộ êm lắm. Không thấy có ǵ khác lạ.

Anh ta ngần ngừ một lúc rồi hỏi:

- Trung úy và mọi người trên tàu định đi đâu vậy?

- Tụi tôi trở lại Sài-g̣n.

- Sao vậy? – Tôi nhận ra đó cũng là câu mà ḿnh đă hỏi nhóm năm người tuột xuống từ chiếc Thị Nại HQ502.

- Tôi c̣n vợ con ở đó.

Anh ta mím môi, lắc đầu không nói thêm một lời nào.

Tôi cho anh ta biết vài chi tiết về đoàn tàu di tản, vị trí phỏng định, phương hướng và điểm tập trung Côn Sơn rồi tiếp:

- Anh có cần ǵ không?

- Dạ không, cám ơn trung úy.

Từ bên chiếc LCU, cũng có vài người lên tiếng hỏi về việc chúng tôi quay trở lại. Tôi không nghe rơ các câu trả lời. Không biết có ai trong thuyền của tôi nói là họ đi theo ông thuyền trưởng hay không (?).

Tôi quay về hướng người trong thuyền ḿnh hỏi:

- Có anh chị nào đổi ư muốn đi tiếp không?

- Bây giờ vẫn c̣n kịp để chuyển sang tàu này.

Tôi nói thêm và chỉ sang chiếc LCU.

Không có tiếng trả lời. Nhưng có một thanh niên c̣n rất trẻ từ chiếc LCU chạy lên sân thượng chỗ thuyền trưởng LCU đang đứng nói chuyện với tôi. Anh ta tiến sát lại mạn tàu và nói:

- Trung úy làm ơn cho em nhờ một việc

- Chuyện ǵ vậy anh?

- Nhờ trung úy chuyển mảnh giấy này về cho Ba Má của em ở Phú Nhuận theo địa chỉ ghi ở trên đó.

Anh ta vừa nói vừa trao cho tôi một mảnh giấy xếp nhỏ, bên ngoài có ghi địa chỉ rồi tiếp:

- Xin trung úy nhắn lại là em vẫn b́nh yên.

Tôi cầm mảnh giấy bỏ vào túi áo trên và gật đầu hứa sẽ làm việc ấy.

- Cám ơn trung úy nhiều.

Nói xong, người thanh niên ấy đưa tay chào tôi rồi lủi trở lại trong đám đông.

Thấy không c̣n ǵ để nói thêm nên tôi quay sang thuyền trưởng chiếc LCU:

- Chúc anh đi gặp nhiều may mắn.

- Dạ, tôi cũng chúc trung úy và mọi người trở lại b́nh an.

Tôi điều khiển tay lái cho tàu ḿnh tách ra khỏi chiếc LCU. Người hai bên tàu vẫn c̣n nói vói sang những lời từ biệt, và không quên kèm theo lời chúc may mắn. Tôi nh́n chiếc LCU một lần cuối rồi tăng vận tốc hướng mũi tàu thẳng vào sông Soài Rạp.Tôi đâu có biết rằng ḿnh đang đâm đầu vào một chiếc bẫy rập. Chiếc bẫy khổng lồ chứa đầy những sự dối trá, gian manh, lừa đảo cùng với những bức hiếp, tù đày, nhục h́nh. Những đặc sản của cái quái thai mà người ta vẫn hằng mỉa mai là "Thiên Đường Cộng Sản" đang chực chờ để nuốt chửng những con mồi ngây dại.

Mặt trời đă khuất bóng dưới đường chân trời, để lại những tia sáng lờ mờ yếu ớt của buổi hoàng hôn. Trên đường tiến sâu vào nội địa, tôi đảo mắt nh́n chung quanh từ gần rồi hướng ra xa cố ư t́m chiếc PCF của nhóm năm người, nhưng không thấy.

- Anh có thấy chiếc PCF kia đâu không? Tôi hỏi trung sĩ Hải:

- Dạ không, chắc họ đi trước rồi.

Kể từ đó trở đi, tôi phải nắm lấy tay lái một ḿnh v́ thủy thủ trên tàu không rành thủy lộ này, hơn nữa tôi muốn ngăn ngừa bất trắc xảy ra cho chiếc duyên tốc đĩnh trong lúc giang hành khi màn đêm đang dần dần buông xuống. Tôi giữ một vận tốc vừa phải để có đủ thời gian cần thiết khi xoay trở, đổi hướng cho được an toàn.

Khi đi ngang qua Vàm Láng th́ trời đă tối đen. Vàm Láng là địa danh nằm sát cửa biển. Nơi có một làng nho nhỏ của ngư dân. Khúc sông ở nơi đây nở rộng ra, bơi xuồng từ bờ Nam sang bờ Bắc phải mất gần nửa tiếng. Tàu thuyền dân sự cũng như chiến hạm của Hải Quân thường bỏ neo nghỉ ngơi ở khúc sông này. Tôi nh́n xuyên qua ống ḍm từ bờ này sang bờ kia đồng thời lắng tai nghe thật kỹ, cố t́m chiếc PCF kia một lần nữa nhưng vẫn không nghe thấy ǵ, kể cả tiếng ghe thuyền dân sự. Có lẽ họ đă ghé vào bờ nào rồi. Tôi thầm mong cho họ gặp may. Chúng tôi tiếp tục cuộc hành tŕnh với nhiều thận trọng, lúc nào cũng quan sát chung quanh và phía trước để có thể kịp thời ứng phó với mọi diễn biến mới. Tuy nhiên chúng tôi đă không gặp một trở ngại nào, mọi thứ đều im lặng như ḍng sông hiền ḥa đang ngái ngủ giữa đêm khuya. Quá nửa đêm th́ chúng tôi đi ngang qua Nhà Bè. Đây là một ngă tư mà các thủy lộ quốc tế gặp nhau nên khúc sông này cũng rộng lớn không thua ǵ đoạn ở Vàm Láng. Đổ ra cửa biển, bên trái có sông Ḷng Tàu rồi gặp cửa Cần Giờ. Bên phải là sông và cửa Soài Rạp mà chúng tôi đă theo để trở lại đất liền. Nh́n ngược vào nội địa, bên phải là sông Đồng Nai và bên trái là sông Sài-g̣n mà hầu hết chúng ta khó quên được trong câu ḥ: “Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định Đồng Nai th́ về”. Dĩ nhiên Nhà Bè cũng là điểm bỏ neo tạm nghỉ chân của mọi loại thương thuyền dân sự cũng như các tàu chiến của Hải Quân. Phía bên trái của chiếc duyên tốc đĩnh chúng tôi hiện thời là các kho dự trữ xăng dầu của tư nhân cũng như của quân đội. Đèn trong ấy vẫn cháy sáng. Tôi không quên được những lần cặp tàu vào đây khi c̣n phục vụ trên HQ474 để nhận nhiên liệu rồi chở đi phân phối cho các đơn vị tiền phương. Nhiều khi chỉ mới rời Sài-g̣n vài giờ, vậy mà khi được hạm-trưởng cho đi bờ, chúng tôi cũng rủ nhau ra đường cái đón xe trở lại cái thành phố hoa lệ ấy. Tuổi trẻ nhiều sinh lực và đầy nhiệt huyết, chúng tôi rất hăng hái trong hầu hết mọi lănh vực, lúc làm việc cũng như khi lè phè hưởng thụ. Tôi thường trở lại thăm “bồ” mà về sau trở thành “bà xă”. Lúc ấy hai đứa tôi chưa cưới nhau nên c̣n mùi lắm. Vắng nhau vài giờ th́ đă nhớ không chịu nổi.

- Trung úy ơi, ḿnh ghé vào chỗ nào? Phải ở đây không?

Tiếng trung sĩ Hải kéo tôi trở về với hiện thực.

- Không, ḿnh sẽ vào luôn tới Sài-g̣n. Ở đây là Nhà Bè.

- C̣n bao lâu nữa ông thầy?

- Cũng hơn một giờ nữa

- Vậy cũng gần lắm rồi? Có khi nào tụi Việt Cộng nổ súng vào tàu ḿnh không hả ông thầy?

Anh lo ngại điều đó cũng có lư. Chắc ḿnh phải làm dấu hiệu ǵ để họ nhận ra là tàu ḿnh trở về tŕnh diện với họ.

- Hay là ḿnh treo cờ trắng. Phương chêm vào.

- Chắc phải làm vậy thôi.

Rồi chúng tôi bàn với nhau lấy một tấm vải trải giường xé ra phân nửa treo lên thay cho cờ quốc gia. Để tránh đi những căng thẳng có thể xảy ra khi chạm mặt, chúng tôi cũng đồng t́nh với nhau nên thay đổi quân phục bằng quần áo dân sự. Sau khi mặc vào bộ quần áo dân sự, tôi moi ra hết các bộ quân phục của ḿnh kể cả tiểu lễ, đại lễ, giày trắng, nón, lon lá, gù vai… ném xuống ḍng sông đang chảy ra hướng cửa biển. Trong lúc vội vă, tôi đă quên đi một chi tiết quan trọng: tôi đă quên giữ lại mảnh giấy nhắn tin của chàng thanh niên trẻ tuổi. Mảnh giấy ấy đă trôi đi với bộ quân phục bị vứt bỏ. Sau này khi nhớ lại, tôi bị dày ṿ, bứt rứt không ít với mặc cảm bội tín. Lời hứa của tôi đă trở thành sáo ngữ vô dụng.

 

Tàu rẽ theo sông Sài-g̣n tiến sâu vào thành phố. Sau những khoảnh đất trống, nhà cửa bắt đầu hiện ra thưa thớt rồi dần dần trở nên dầy đặc hơn. Hai bên bờ sông thật im lặng; h́nh như mọi người c̣n đang ngon giấc mặc cho những biến động đang xảy ra chung quanh. Nhưng chúng tôi th́ khác, sự lo lắng và chờ đợi khiến không ai ngủ được. Tôi nh́n đồng hồ trên cổ tay, c̣n mười lăm phút nữa là bốn giờ sáng. Khi tàu tiến ngang khu thương cảng Khánh Hội, mọi người trong tàu đứng lên và chồm ra hai bên để nh́n lên bờ. Vẫn không nh́n thấy bóng dáng lính tráng miền Bắc ở đâu, cũng không có ai trên bờ biết sự có mặt của chúng tôi trong lúc này. Không ai thèm để ư đến sự hiện diện cỏn con của chúng tôi giữa những biến cố trọng đại đang đổ xuống trên quê hương. Qua khỏi cầu Tŕnh Minh Thế, rồi nhà hàng nổi Mỹ Cảnh vẫn không thấy phản ứng nào của "phía bên kia" từ trên bờ. Tôi nói với hạ sĩ nhất trọng pháo Phương đang đứng bên cạnh:

- Anh Phương lấy trái sáng bắn lên trời theo hướng dẫn của họ đi. Ḿnh tiếp tục đi âm thầm như thế này rất nguy hiểm.

- Dạ, ông thầy.

Sau tiếng rít xé không gian rồi một tiếng nổ bụp nhỏ, ánh hỏa châu từ trên cao rọi xuống xoi rơ chiếc duyên tốc đĩnh lù đù giữa ḍng sông.

- Vào đ...ây...ây!

Một giọng hét vang lên từ trong bờ như tiếng quỉ gọi hồn từ địa ngục phá tan cái yên lặng của đêm tối. Rồi một loạt tiếng lách cách của đạn lên ṇng tiếp theo, kèm với ánh đèn pin lấp lóe chỉa về hướng chúng tôi. Tôi chuyển cần điều khiển máy tàu trở về vị trí ngưng rồi hướng mũi chỉa thẳng vào chỗ ánh đèn pin ấy, đồng thời cho máy lùi một vài khoảnh tích tắc ngắt đoạn để giảm bớt sự va chạm lúc ủi vào bờ. Phương ném sợi dây lên để người trên bờ lấy cột vào một trụ hàng rào. Tàu chúng tôi ủi vào bến Bạch Đằng, bên trái là nhà hàng nổi Mỹ Cảnh bên phải là bến cặp cầu Tự Do, trước mặt là sân gôn (golf), bên kia đường là ṭa cao ốc nằm chắn gốc đường Hàm Nghi – h́nh như là của công ty chế tạo sửa Foremost (?). Và cũng trước mặt tôi là bốn tên bộ đội tay cầm súng AK, đầu đội nón cối chân đi dép râu mặt c̣n non choẹt.

- Anh nào là thủ trưởng của thuyền này? Một tên cất tiếng hỏi với giọng miền Bắc đặc sệt.

- Tôi đây. Tôi bước ra nhận trách nhiệm mặc dù có hơi lấn cấn với từ ngữ thủ trưởng đó.

- Trên thuyền có bao nhiêu người? Lại một giọng hỏi miền Bắc khác.

- Thủy thủ đoàn trên tàu có năm người, c̣n những người khác là dân thường chạy nạn được chúng tôi đón giữa đường. Các anh nên để cho họ trở về nhà để t́m lại thân nhân.

Bốn tên bộ đội châu đầu vào nhau bàn tính một lúc rồi trở lại với chúng tôi:

- Chúng tôi chấp thuận đề nghị cho thường dân được tự do trở về nhà, c̣n năm anh trong thủy thủ đoàn ở lại tàu chờ thủ trưởng chúng tôi đến quyết định.

- Bao giờ th́ thủ trưởng các anh đến đây. Tôi hỏi lại:

- Không cần hỏi, bao giờ thủ trưởng chúng tôi đến các anh sẽ hay.

Giọng điệu của kẻ chiến thắng có khác, tôi lẩm bẩm. Thủy thủ đoàn trên thuyền thật sự có năm người kể cả tôi. Ngoài Hải, Phương c̣n có Hùng và Thành. Tôi ít khi nhắc đến Hùng và Thành v́ họ không có dịp tiếp xúc với tôi nhiều trong chuyến tàu ấy.

Những người được chúng tôi rước trên đường chạy ngang Mỹ Tho lần lượt xách hành lư rời tàu bước lên bờ. Trông họ cũng có vẻ vui tươi hớn hở, không c̣n nét lo lắng như mấy phút trước đây. Chỉ có vài người quay lại từ giă tôi và các thủy thủ, c̣n lại th́ cứ lầm lủi mà đi như cố quên những sóng gió vừa qua. Hai tên bộ đội trong nhóm xách ba lô, súng, đạn và các thứ hành trang khác bước xuống tàu. Một tên nói:

- Từ giờ trở đi, các anh ở lại thuyền dưới sự kiểm tra của chúng tôi. Các anh muốn làm ǵ, đi đâu th́ phải báo cáo.

Chúng tôi nh́n nhau mà không lên tiếng trả lời. Những người cán binh Cộng Sản đó nhanh chóng t́m nơi an vị. Một tên trấn ở pḥng chỉ huy, c̣n tên kia th́ mang hành lư xuống ca-bin nơi thủy thủ đoàn nghỉ ngơi, sinh hoạt. Trời vẫn c̣n tối mặc dù đă gần năm giờ sáng. Các thủy thủ của tôi cũng thấm mệt nên ḅ lên giường ngủ của ḿnh ngả lưng.

C̣n tôi th́ đứng nơi pḥng chỉ huy, nghiêng người lên chiếc bàn nhỏ, chống tay vào càm nh́n ra ngoài tư lự. Tôi thắc mắc không biết vợ con ḿnh có b́nh an không. Giờ này đang ở đâu, làm ǵ. Có sợ hăi mà bỏ chạy như một số người mà tôi đă gặp không? Rồi chạy tới đâu, có lên chiếc tàu nào chạy ra ngoài khơi kia không? Nếu lỡ có th́ tôi phải làm ǵ đây. Thật dở khóc dở cười nếu điều ấy thật sự xảy ra. Tôi lại cảm thấy bồn chồn lo lắng, chỉ mong trời mau sáng để gặp thủ trưởng của họ rồi xin về nhà. Tôi gục đầu xuống bàn, vài giây sau th́ không c̣n biết ǵ nữa.

Tiếng nói chuyện ồn ào làm tôi giật ḿnh tỉnh giấc Tôi ngóc đầu lên nh́n ra bên ngoài. Trời đă sáng tỏ; cái kim ngắn trên chiếc đồng hồ tay chỉ gần số bảy. Thành phố Sàig̣n vẫn c̣n nguyên vẹn, không có nét tàn phá nào sau cuộc chiến. Một số người đứng trên bờ nh́n xuống tàu chúng tôi. Tôi thấy họ đưa tay chỉ trỏ trong lúc nói chuyện. Những người dân Sài-g̣n thân thương của tôi đó mà, nhưng sao bây giờ như xa lạ. Họ là những người đă từng la cà ở bến Bạch Đằng này nhiều hơn ai hết. Họ đă từng thấy và biết nhiều về các chiến hạm của Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa qua lại hay cặp cầu trên bến cảng này. Trong những ngày tháng phục vụ trên Dương Vận Hạm Qui Nhơn HQ504, tàu chúng tôi thường cặp cầu Tự Do bên tay phải của tôi bây giờ đây. Lúc đó có thấy người tụ tập chiêm ngưỡng, ḍm ngó như thế này đâu. Chiến tranh đă tàn, cục diện đă thay đổi. Gió đă đổi chiều. Luồng gió mới đó đă biến đổi chúng tôi thành những con người xa lạ hay sao? Tôi nh́n lại bản thân ḿnh. Thật cũng có thay đổi. Tôi đă mất hết quân phục, gù vai. Mặt mày lại hốc hác, tóc tai rối bồng. Nhưng bao nhiêu đó cũng có ǵ lạ lắm đâu. Tôi có cảm tưởng ngược lại: những người đang đứng ḍm ngó chúng tôi trên kia chắc là mới từ miền Bắc vào Nam. Nhưng không, tôi đă sai v́ họ nói tiếng miền Nam đặc sệt mà. Hay là t́nh h́nh của chúng tôi bây giờ giống như mấy con vật trong sở thú! Thật là đau đớn khi phải nói ra những lời so sánh điên rồ đó. Tôi nghĩ có lẽ họ là những người ṭ ṃ muốn nh́n thấy bộ mặt thật của những kẻ thua trận ra sao. Nhiều người trong đó cười nói vui vẻ ra điều thích thú lắm. Có ai trong họ cảm thấy buồn hay chua chát cho chúng tôi không? Số người ṭ ṃ càng lúc tụ tập càng đông hơn. Thật là xấu hổ! Tôi không chịu nổi nữa nên bỏ đi vào bên trong, rồi ra sân sau t́m chỗ ngồi để tránh né đám người đó. Nh́n vào trong, tôi thấy hai tên cán binh miền Bắc đang sửa lại quân phục có vẻ như chuẩn bị để lên bờ hay đón tiếp ai. Lúc này trời đang sáng tỏ; nh́n kỹ lại thấy họ quả thật c̣n rất trẻ, chắc không quá hai mươi tuổi. Tôi cầu mong thủ trưởng của họ mau mau đến đây để ḿnh c̣n hy vọng được trở về nhà sớm.

Trong lúc đang lo nghĩ vẩn vơ, tôi chợt thấy một thanh niên chập choạng đi xuống dưới nước phía bên trái mạn tàu. Không biết anh ta từ trên bờ tuột xuống dưới đó từ lúc nào. Anh chàng nầy cũng lạ, mới sáng sớm mà đă tắm sông. Tôi nghĩ như vậy rồi nh́n lên bờ, thấy thiên hạ vẫn ḍm ngó xuống tàu ḿnh; h́nh như không ai để ư đến người thanh niên ấy. Người thanh niên đó tiếp tục đi xuống nước, vừa đi vừa khoát nước lên người, lên mặt ra điều thích thú. Anh ta xuống sâu hơn dưới nước, càng lúc càng xa bờ. Nước lên khỏi đầu gối, lưng quần, rồi ngang ngực. Tôi thấy anh ta lặn ngụp mà hai tay vẫn đưa lên khỏi mặt nước bơi, đập. Đột nhiên không thấy anh ta ló đầu lên nhiều như lúc đầu, nhưng lúc nào trồi lên th́ mồm há hốc và lại ch́m xuống nước ngay tức khắc. Rơ ràng là người không biết bơi. Nếu không được giúp đỡ, kéo lên kịp thời th́ sẽ chết đuối trong khoảnh khắc. Tôi nh́n lên bờ thấy cũng có một ít người theo dơi thanh niên này. Tôi thầm mong có ai trong đó lội xuống cứu anh. Thế nhưng mọi người vẫn đứng yên bất động. Tôi sốt ruột nh́n anh ta, bây giờ th́ không thấy đầu ló lên nữa mà chỉ c̣n thấy hai tay bập bềnh trên mặt nước, yếu ớt. Tôi không chịu được và cũng không muốn nh́n một mạng sống bị tướt đoạt một cách vô lư, bèn cởi áo tháo giày nhảy ṭm xuống nước. Tôi nhanh chóng bơi tới chỗ thanh niên đang hụt hẫng ấy. Chỗ đó cách xa bờ hơn hai mươi thước. Tôi dùng chân ḿnh để ḍ t́m đáy sông nhưng không chạm đến được nên độ chừng nơi ấy cũng khá sâu. Tôi dùng tay trái nắm lấy tay anh ta và nâng lên khỏi mặt nước. Đúng là chết đuối gặp phải phao, người thanh niên đó quơ tay và vội vàng ôm chặt lấy cổ tôi. Tôi nói lớn vừa đủ cho anh ta nghe: Anh vịn vai tôi thôi. Đừng ôm cổ, tôi bị nghẹt thở và khó có thể bơi được vào bờ. Không biết anh ta có nghe tôi nói ǵ không mà không thấy có phản ứng. Tôi phải gỡ tay anh ta ra khỏi cổ và đặt lên vai phải của ḿnh. Lúc chân chạm đất, tôi xóc nách và d́u anh ta lên bờ. Đi được vài bước, tôi thử buông ra để anh tự đi. Nhưng như cọng bún, anh ta quỵ xuống. Tôi lại tiếp tục xóc vào nách và vác anh lên đến tận trên sân đánh gôn. Tôi biết là lúc này mọi người đang bu lại nh́n chúng tôi đông lắm, nhưng cố lờ đi làm như không thấy ai hết để c̣n có đủ can đảm tiếp tục công việc ḿnh đang làm. Thật là khốn khổ! Điều ḿnh lo sợ nó lại đến. Tôi đang cố trốn chạy, né tránh mọi người mà. Trời ơi! Sao lại là tôi? Tại sao tôi phải làm việc ấy. Tại sao không có ai khác làm thay cho tôi. Tôi cắn răng chịu đựng với những ư nghĩ không yên đó.

Tôi đặt người gần chết đuối nằm sấp bụng trên một g̣ đất cao, rồi dạng hai chân đứng hai bên hông của anh đoạn cuối xuống dùng hai tay nâng bụng lên, rồi buông xuống. Sau vài động tác cứu cấp mà tôi học lóm được của những người đi trước, anh thanh niên đó ọc ra một vài ngụm nước. Tôi lật người anh ta ngửa lên, và cũng bắt chước dùng hai tay chập lại nhồi lên ngực anh ta mấy lần (sau này có dịp được học phương pháp cứu cấp CPR ở Hoa Kỳ mới biết lúc ấy ḿnh làm không đúng cách). Anh ta thở kh́ ra mấy hơi, tay chân bắt đầu quờ quạng nhiều hơn trước. Tôi nghĩ chắc anh ta đă qua khỏi cơn nguy hiểm nên nói vừa đủ cho anh ta nghe:

Anh nằm nghỉ thêm cho khỏe, chắc không sao đâu.

Không nghe thanh niên ấy nói ǵ, nhưng tôi nghĩ anh ta chắc không chết đâu nên đứng lên đi trở về tàu. Tôi đi thật nhanh như chạy trốn, không nh́n một ai và cũng không để ư đến những sự việc chung quanh. Sau khi thay quần áo, tôi sốt ruột chờ đợi thủ trưởng của những người đội nón cối kia, nhưng vẫn không thấy tăm hơi nên đến nói với họ:

- Các anh có biết bao giờ thủ trưởng của các anh đến đây không? - Có lẽ trong sáng hôm nay thôi, nhưng không chắc lắm.

- Tôi muốn lên trên bờ ăn sáng, các anh thấy được không?

- Được thôi.

Tôi không ngờ họ chấp thuận một cách mau lẹ như vậy, nên quay qua hỏi thủy thủ của ḿnh:

- Anh Hải, Phương, Hùng và Thành muốn đi ăn sáng với tôi không?

- Dạ thôi, anh Chiến đi trước đi. Tụi tôi đi sau.

Thật bất ngờ, thủy thủ của tôi đă đổi cách xưng hô. Nhưng tôi nghĩ họ đă làm đúng. Xưng hô như thế th́ hợp thời quá rồi, c̣n ǵ. Hôm ấy là sáng mồng một tháng năm. Thành phố Sài-g̣n chan ḥa ánh nắng ban mai. Cỏ cây hoa lá vẫn đua nhau khoe muôn ngàn sắc thắm. Thiên nhiên vẫn lạnh lùng tiến bước với nhịp điệu của thời gian. Tôi bước đi trong một ngày đẹp trời như thế với cả một tâm tư trĩu nặng. Bước vội qua đại lộ Bạch Đằng, tôi tiến thẳng vào đại lộ Hàm Nghi mà cũng không biết ḿnh đi đâu. Tôi cảm thấy đói chút ít, nhưng c̣n bụng dạ nào mà ăn. Chẳng qua tôi muốn lánh đi cái đám đông tàn nhẫn ấy. Đại lộ Hàm Nghi vẫn có tiếng là tấp nập v́ những hoạt động thương mại sầm uất, nhưng hôm nay lại càng ồn ào náo nhiệt. Người ở đâu mà đầy nghẹt cả đường phố, không c̣n chỗ chen chân. Các cửa hàng vẫn mở, buôn bán mời chào. Quán hàng rong và những người bán hàng chợ trời càng đông hơn mọi lúc. Chính giữa đường th́ chen chúc đủ các loại xe đang thi nhau bóp kèn inh ỏi. Nhưng đặc biệt có vài loại xe không cần bóp kèn mà mọi người phải mau lẹ né tránh nhường lối. Đó là những chiếc jeep của quân đội hay cảnh sát Việt Nam Cộng Ḥa mà giờ đây được những thanh thiếu niên mặt c̣n hôi sữa sử dụng. Cờ đỏ treo trên các cần “ăng-ten”. Họ ngồi đầy trên xe, mặc đồ dân sự với băng đỏ mang trên cánh tay hoặc cột trên đầu, tay ôm súng M16, Carbine. Cộng thêm vào đó là những chiếc Honda cũng với những chàng thanh niên đèo nhau, trang phục giống như vậy. Thỉnh thoảng họ bắn lên trời vài tiếng súng đ́ đùng làm mọi người kinh hăi. Tôi nghĩ chắc họ là người của “Cách Mạng”, nhưng sau này mới biết rơ đó là những tên "Việt Cộng Ba Mươi Tháng Tư".

Khi đi ngang qua chỗ bán hàng chợ trời, tôi thấy có mấy người bày bán đủ các loại hàng lậu mang nhăn hiệu Hoa Kỳ. Từ xà bông giặt, xà bông tắm cho đến dao cạo râu, thuốc dùng sau khi cạo râu, quần lót, áo thun của lính cho đến các loại lương khô, thực phẩm đóng hộp... Tôi chợt thấy trong mớ hàng hóa đó có mấy bao đường cát trắng C&H mà tôi biết vợ ḿnh rất thích xài, nên ngồi xuống hỏi mua. Không cần trả giá, tôi móc túi mua đại một bao loại năm cân (5 lbs). – Về sau, khi ra khỏi trại tù cải tạo tôi đă nh́n thấy cái bao đường ấy c̣n nguyên trong góc tủ. Vợ tôi cho biết, nàng muốn giữ nguyên bao đường như một kỷ vật nhắc nhớ đến người đi xa. Ôm bao đường cát, tôi tiếp tục đi về hướng công trường Quách thị Trang. Người đi trên đường phố càng lúc càng đông. Tôi phải chật vật lắm và phải mất đến hai mươi phút sau mới đến gần được cái “bồn binh” ấy.

Tiếng máy nổ của xe cộ đột nhiên trở nên rầm rộ, vang rền điếc cả tai. Tôi nh́n ra đường dáo dác t́m kiếm xem tiếng máy ấy phát ra từ chiếc xe nào. Hướng mắt về đại lộ Trần Hưng Đạo, tôi thấy mọi người đang xôn xao đổ ra đường, đồng thời tôi cũng nghe những tiếng máy nổ thật lớn từ hướng đó. Người trên đường bỗng vẹt ra hai bên rồi giơ tay reo ḥ ầm ĩ. Một chiếc xe tăng T54 ló dạng ở đầu đường Trần Hưng Đạo. Rồi một chiếc khác, một chiếc khác, một chiếc khác nữa... lần lượt xuất đầu lộ diện. Trên những chiếc xe tăng màu cứt ngựa c̣n bết bụi, śnh lầy ấy là những cán binh Cộng Sản. Những người cán binh Cộng Sản chân mang dép râu đầu đội nón cối, có người đội nón vải ka-ki kiểu lính lái xe tăng của Liên–xô, mặt tươi cười sáng rỡ tay cầm cờ đỏ sao vàng hay cờ của Mặt Trận Giải Phóng và dĩ nhiên cả súng AK, phất cao. Người trên xe đă reo ḥ mà người dưới đất c̣n la to hơn; có người cũng cầm cờ Cộng Sản phất qua, vẫy lại. Khung cảnh trở nên náo nhiệt và sôi động như vỡ chợ. Họ la hét những câu ǵ tôi không nghe rơ, nhưng mặt mày họ cũng rạng rỡ không thua ǵ những cán binh Cộng Sản kia.

Người dân Sài-g̣n thân yêu của tôi đây mà! Tôi đă phải ngậm ngùi lập lại câu đó một lần nữa. Mấy năm trước đây cũng những người ấy, cũng những gương mặt rạng rỡ đó đă reo vui chào đón những anh chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa diễn hành trên đại lộ Trần Hưng Đạo. Tôi thật không hiểu được. Hôm nay họ reo vui chào đón những người Cộng Sản hay họ mừng rỡ v́ chiến tranh đă tàn. Tôi cúi đầu nh́n đi chỗ khác, chợt bắt gặp một vài gương mặt cũng buồn hiu và câm lặng như ḿnh. Đoàn xe T54 tiếp tục chạy ṿng theo công trường Quách thị Trang rồi chia ra mấy chiếc rẽ xuống đại lộ Hàm Nghi, c̣n lại th́ tiến thẳng vào đại lộ Lê Lợi. Tiếng xích sắt nghiền trên mặt đường nghe rung chuyển cả một góc phố. Tôi lặng người nh́n những chiếc xe tăng và cảm thấy như có ai đó đă mang quả tim ḿnh ra đặt trên mặt đường dưới những lằn xích sắt tàn ác ấy.

Tôi bước qua góc bên kia đường Hàm Nghi, nơi có một số xe Honda đang đậu. - Anh có chạy xe ôm không vậy anh. Tôi hỏi một người đàn ông ngồi trên xe.

- Anh muốn đi về đâu.

- Làm ơn chở tôi về quận 5, ngă tư Thành Thái và Trần b́nh Trọng.

- Lên xe đi.

Người chạy xe Honda bỏ tôi xuống đầu một ngơ hẻm đường Trần b́nh Trọng theo sự chỉ dẫn của tôi. Tôi vét túi trả tiền và cám ơn anh ta, rồi ôm bao đường cát đi vào trong hẻm.

Má vợ tôi là người đầu tiên tôi chạm mặt. Bà đang loay hoay quét dọn trước sân nhà, và đă la lên khi ngước mặt nh́n thấy tôi:

- Ủa Chiến, con mới về hả.

- Dạ!

Rồi bà quay vào bên trong nhà nói lớn: - Mấy đứa ơi, Lan ơi anh Chiến về.

Tôi không chờ đợi mà chạy đại lên lầu, gặp mấy đứa em vợ đứng gần cầu thang. Chúng nó kêu:

- Anh Ba, anh mới về hả.

- Ừ.

Tôi đáp rồi tiến thẳng đến ngưỡng cửa nơi vợ tôi đang ôm con đứng chờ. Tôi không bao giờ quên được gương mặt xanh xao, đôi mắt lo âu mà mừng rỡ ấy. Tôi tràn tới ôm cả hai vào trong ṿng tay. Cả tôi và nàng, không ai nói một câu. Tôi xiết chặt vợ con trong tay mà nghe tim ḿnh thổn thức. Tôi muốn ôm giữ thật kỷ cái bảo vật tưởng như đă mất nay lại t́m được. Con tôi chợt khóc thét lên. Tôi đưa tay bồng con, quay qua thấy một đôi mắt long lanh đang nh́n ḿnh, cái nh́n hớn hở và chan chứa.

Hơn một tháng sau tôi khăn gói đến trung tâm Trần Hoàng Quân, tŕnh diện học tập cải tạo theo lệnh của quân quản Sài-g̣n. Từ hôm ấy, tôi lại bắt đầu một khúc quanh mới của đời ḿnh. Một khúc quanh đầy cay nghiệt.

Huỳnh kim Chiến

 

 

 

CUỘC DI TẢN BUỒN

ĐÀ NẲNG

Thành phố Đà Nẳng trở nên rối loạn khi măt trận Tây Nguyên tan ră, và có lẻ biến cố Tết Mậu Thân như một cơn ác mộng vẩn c̣n kinh hoàn chập chờn trong tim óc của người dân miền Trung , cho nên từ Quảng Tri miền đia đầu giới tuyến trở vào Huế, và bằng tất cả mọi phương tiện,  người ta bồng bế, gánh gồng,  chen chúc nhau trên quốc lộ 1  đổ vào Đà Nẳng. Dân chúng từ Tây Nguyên cũng nhắm hướng Đà Nẳng tràn xuống như nước vở bờ. Ngoài ra đủ các màu áo lính, với vủ khí trên tay lang thang trên đường phố, tôi c̣n thấy cả nhửng người mặc civil mà lai đeo súng trên vai, đố biêt ai là bạn hay ai là thù, thật hồn loạn, thật nguy hiểm.

Trong người của tôi chỉ có khẩu súng Colt 45 , bộ đồ xanh 4 túi HQ với huy hiêu HĐ1ZP để chứng minh cho mọi người  tôi là  môt SQHQ/V1ZH, thế thôi. T́nh thế không mấy tốt đẹp, tôi vội vàng xách chiếc xe Honda Dam chạy qua Sơn Chà để vào Hải Đội, thông thường tôi chỉ cần xuống bến phà sông Hàn đi phà qua sông là con đường ngắn nhất để vào bộ tư lệnh vùng 1 zuyên hải, tưởng cũng nên nhắc lại phà qua sông Hàn này cũng là nơi kỷ niệm lúc nhac si Nhât Ngân đưa người yêu qua sông, cho nên Nhât Ngân đă cảm tác bài” Tôi Đưa Em Sang Sông”.. nhưng phà đâu chẳng thấy, và các em nử sinh trung học thường đón phà qua sông hàng ngày cũng vắng bóng.Tôi vôi vàng lái thẳng qua cầu De Lattre( cầu Trinh Minh Thế) để vào đơn vị.

Tôi, cũng như hàng trăm người đủ mọi quân binh chủng và dân chúng bị Quân Cảnh và lính Hải Quân  chận lại ngay cổng CCYT/TV/ĐN, với chục hàng  khoanh kẻm gai tṛn, cho dù tôi cố gắng hét to là tôi là môt quân nhân HQ vùng môt ZH, tiếng hét , tiếng la to của tôi cũng chằng vang vong được ǵ, ngoai trừ tiếng kêu khóc của trẻ con  kề cả người lớn. Tôi thấy môt ông khoảng chừng 45 hay 50 măc bộ đồ quân phuc HQ bac màu, không mủ, không huy hiêu, vừa đi vừa nói lảm nhảm môt ḿnh như người mât trí, có lẻ gia đ́nh chia ly, tang tóc… T́nh thế không cho phép tôi đứng chờ, hay có môt phép lạ là quân cảnh và lính HQ sẻ mở hàng chuc cuộn dây kèm gai để cho mọi người vào, và tôi cũng đươc biết là các quân nhân bô binh, nhất là lực lương nhảy toán Long Thành, thuộc Nha Kỷ Thuật, đơn vị đồn trú tai Sơn Chà đă nổ sung thị uy để t́m cách vào căn cứ, v́ họ biết rằng chỉ c̣n môt phương tiện duy nhât là đường biển để di tản vào Nam. Tôi lái chiếc Honda từ Sơn Trà chạy ngươc về hướng Đà Nẳng, trên đường tôi thấy đoàn xe của  Bộ Tư Linh Quân Đoàn 1 căn cứ đóng tại tai phi trường quân sự Đà Nẳng đă di chuyển và có lẻ phi trường đă  bỏ ngỏ, từng đoàn công voa nối đuôi nhau, vợ con, thân nhân và gia đ́nh binh sỉ trên xe nheo nhóc, hành lư và  ba đồ lỉnh kỉnh chồng chất trên xe, có lẻ họ xuôi về hướng Quảng Ngải hay đi về phía Nha Trang hay dồn qua căn cứ Hải Quân Tiên Sa, không ai rỏ.

Tin tức chiến sự không khả quan, Pleiku và Banmethuôt đă mất , các tỉnh miền duyên hải làm sao mà đứng vửng, lại có tin chiến xa VC T 54 từ Non Nước trưc chỉ tấn công thành phố Đà Nẳng. Ngoài ra nhiều tin đồn mà ai cũng cho là có giá tri là VNCH đă đồng ư cắt cho MTGPMN từ cửa Sa Huỳnh Quảng Ngải trở ra cửa Việt…tôi cấp tôc trở lại nhà cha mẹ vợ tại gần trường trung học Phan Châu Trinh, tai đây tôi gặp môt số SQ Cảnh Sát cấp Đai Úy , ho biết tôi qua môt vài lần ăn nhậu thân hửu tai nhà bố vơ, họ nghỉ rằng tôi là môt SQ lái tàu có thể giúp gia đ́nh ho di tản vào Nam, nhưng khi ho biết rằng tôi cũng đang bi ket không vào căn cứ HQ được, cho nên ho nhanh chân lo t́m phương cách khác.

Trong thời c̣n tuổi trẻ, trời phú cho tôi đươc cái là nhanh nhen, giọng nó to, và phản ứng rất nhanh trong bất cứ hoàn cảnh nào, do đó, tôi nói với gia đ́nh vợ là nên đi vào Nam, phải quyết định cấp kỳ, và tôi không chậm trể lái xe honda chạy  ra sông Hàn t́m một ghe dân vừa đủ cho đại gia đ́nh , mấy ngày trước đó  me tôi và em trai đă đươc người bạn thânTrần Hùng Cân cho lên tàu 504 đi trước. Trong lúc tôi đưa me và em lên tàu và nhờ Cận lo cho mẹ và em tôi, tại đây tôi gặp đứa em trai của Lưu Văn Lể trên chiên ham môt ḿnh, tôi căn dăn em trai tôi lo cho thằng nhỏ này.

Chiếc ghe dân tôi mướn với giá cắt cổ bằng cả tháng lương Trung Úy của tôi, nhưng t́nh thế này không c̣n cách nào khác, tôi chạy vôi về nhà vợ báo là ghe đang chờ tai sông Hàn,  gia đ́nh quyêt đinh vào Nam nên đă chuẩn bi khá đầy đủ, lương thưc, áo quần,và hai chiêc Honda. Với quân phuc mang lon Trung Úy, tôi luôn đứng đầu mủi ghe trưc chỉ Hai Đôi tiến vào, tôi đă quyết định đúng là mướn ghe, không có môt cản trở nào trên biển, tôi củng không c̣n tâm trí để ư những ǵ xung quanh, tối hướng dẩn cho ông chủ ghe hướng tiến, tôi nh́n lên cầu Hải Đội, chỉ c̣n hai chiếc PCF cập cầu, trên tàu đông đúc người , một chiếc 3876 do Tr/Úy Nhưt làm thuyền trưởng, lường tàu ch́m sâu trông thấy rỏ v́ nặng, nghe nói tàu bi hư và hỏng môt chân vit, nhưng sau này khi chúng tôi ra khơi, tôi biết 3876 lẹt đẹt gần Cù lao Chàm.

Ghe tôi vừa câp cầu HĐ tức th́ môt Trung Si HQ la lên, ông trưởng ơi, tàu này cần thuyền trưởng, củng nhắc lai là tôi hồi đó là thuyền trưởng PCF 3882 đang nằm Đai kỳ tai CCYT, và thông thường lính kêu thuyền trưởng tàu là ông trưởng. Nhanh như chớp, tôi đươc anh em HQ trên chiếc PCF phu giúp đưa tất ca gia đinh đồ đac và hai chiêc xe Honda lên tàu. Bổng nhiên môt Si Quan từ trên bờ chay xuống, đó là Trung Úy Pham Phước Tề thuyền trưởng chiêc tàu tôi mới lên, Trung Úy Tề trong môt phút giao đông rút súng colt 45 chỉa vào ngưc tôi và hét lớn: tai sao mi lấy tàu tau….Tôi là môt thằng rất nóng tánh, nhưng lúc đó tôi b́nh tỉnh  môt cách lạ thường, tôi cũng rút súng colt cũa tôi dắt sau lưng và lên đạn…tôi nói rât ôn tồn..Tề…súng tau lên đạn . c̣n súng mày th́ chưa, tao chỉ nhờ tàu mày đưa gia đ́nh ra khơi, rồi tao sẻ t́m thằng ban khác rước tao, anh em lính trên tàu củng lên tiếng phụ vào khuyên can, sau đó moi chuyên coi như giải quyêt xong, nếu anh em HQ chứng kiến sư viêc trên trong ngày di tản buồn th́ coi như là môt kỷ niêm, và tôi cám ơn anh em đă giúp tôi và gia đ́nh lên tàu. Củng nhắc lai Tr/Uy Tề, tôi không hiêu v́ sao có tàu trên tay nhưng lai kẹt lai và đi hoc cải tao rât lâu, găp hắn trong kỳ Đai Hôi Lưu Đày tai Washington, nhắc lai chuyên củ khi đang uống rượu trong pḥng khách sạn của nhà thơ lưu đày” Nát Rượu” Đức Phổ , Tề cười như mếu, nhắc chuyên củ trong niềm cay đắng ngâm ngùi, hỏi Tề, hắn nói gia đ́nh ở Huế kẹt nên không thể ra đi, củng là môt người con có hiếu.

Ra khơi, tôi liên lac đươc với thuyền trưởng Nguyễn hửu Lâu ngưởi ban đồng môn và đồng chiến hửu, cũng nhăc lai câu chuyên vui buồn trong thời gian thu huấn tai Trưởng BB Thủ Đức, luc đó tôi là huynh trưởng khóa 6/69 mà ban bè hay nói là Đai Đoi Trưởng cả đời, và huynh trưởng cả đời, bởi v́ cái giong hét của tôi rất to, đàn em rât ớn…mà làm Đai Đôi Trưởng lai cần phải uy phong lẩm liêt chứ..Tôi nhận ra Lâu và huy hiêu khóa đàn em 1/70 từ xa tiế tới, tôi ra linh , anh kia đứng đó, quay lưng lai…đàng sau quay , ư tôi không cho Lâu biết tôi là ai, Lâu làm đông tác rất nghiêm chỉnh, tôi nói anh là tân khóa sinh tại sao lai đi bộ, phải chạy..anh hit đất 100 cái cho tôi…dạ tuân lịnh..Lâu hít đất đươc vài cái tôi bảo đứng lên và tŕnh diện tôi…Đ..M mày Lac hả..

Thuyền trưởng Lâu căp kè với chiêc tầu tôi đang đi nhờ và chúng tôi lai môt lần nửa di tản đồ đạc và xe lên tầu Tr/Uy Lâu. Cám ơn bạn Lâu trong cuôc di tản buồn.

Bây giờ hai thuyền trưởng trên chiêc PCF, tôi và Lâu rât vửng tin cho cuôc hành tŕnh không phương hướng, không lệnh lạc, mổi thuyền trưởng tự động giải quyết mọi vấn đề theo phương cách riêng, chúng tôi và cả đoàn tàu HĐ nằm trong vi thế chờ linh,nghe ngóng, án binh bất động gần bộ Tư Linh V1ZH, trên măt biền, vô số tàu thuyền, duyên đoàn, hạm đồi, ghe dân, xà lang quân vận…thoạt nhiên trong đêm khuya, trên tấn số truyền tin tôi nghe giong nói giận dử của HQ/ĐaiÚy Lê Khuê Hào .. Đ M mày …… mày gat tao, mày bỏ tao..     …Hào..b́nh tỉnh đi…ĐM con C …mày là thằng đểu, đ m…sau này tôi mới biết Đ/U Hào đươc câp chi huy phong chức Chỉ Huy Trưởng hậu cứ,  , sự thật th́ cac quan to và gia đ́nh đă cao bay xa chạy lên soái hạm hoăc tàu lớn an toàn cả rồi, nhưng các quan to  vẩn c̣n…. lo lắng… cho đơn vi, cho nên cắt cử quyền Chỉ Huy Trưởng hậu cứ cho đàn em lảnh trách nhiệm cho chắc ăn. Đai úy Hào bị kẹt trong căn cứ, tất cà tàu đều rút ra khơi, trong căn cứ HQ, các quân binh chủng kể cà dân chúng đă tràn vào với hy vọng có tàu HQ cứu họ . Trong đêm có môt chiếc PCF âm thầm lằng lẻ tiếp cận được bộ chỉ huy hậu cứ và đưa Đai Úy Hào ra biển.

Lai nghe trên máy 46…”t́m con cá để rước Đô Đôc Hồ văn kỳ Thoại đang ket trong bờ”…VC đang pháo kich đúng vào BTL/V1ZH dử lắm…và sau thời gian khoảng hai tiếng đồng hồ trên máy báo cáo đă bốc đươc Tư Linh Thoai và số SQ va binh linh đi theo.

Ngày 25 tháng 3 , cả đoàn tàu di tản xuôi về Nam, chúng tôi trưc chỉ Cù Lao Ré, Đảo Lư Sơn và nghỉ ngơi ở đó , tàu tôi căp kè với PCF có Trung Úy Nhiên trên đó, Nhiên đem theo người em trai , và tôi nhớ măi giọng nó như con gái …anh Lac ơi!! Đi c̣n xa không, em mệt lắm…tôi trả lời..ráng lên, củng gần tới rồi…và sau đó chúng tôi đến vinh Cam Ranh.

CAM RANH

Chiếc PCF của Lâu căp cầu  HQ Cam Ranh , tại đây không hẹn mà găp, từ PCF, Coast Guard cho đến đủ loại tàu, ghe, giang, duyên đoàn tấp nâp bỏ neo xung quanh môt cách vô trât tự. Lâu bàn với tôi là cho Lâu vào cầu đá Cam Ranh,gần đó là nhà em gái hậu phương  nơi mà tôi và Bùi Tho Xung hay tá túc trong nhà của em gái hâu phương mổi cuối tuần trong thời gian thu huân khóa thuyền trưởng Cam Ranh năm nào… Lâu nói cần đi về nhà t́m gia đ́nh, trên tàu có sẳn môt chiếc Vespa, và Lâu giao trách nhiêm cho tôi kể từ giờ phút đó, Lâu c̣n căn dặn với tôi là ngày hôm sau đến lai cầu đá này để rước tao…

Bây giờ tôi hoàn toàn có đủ quyền hạn thât sự trên tàu , tôi lấy môt chiếc Honda đưa lên bờ và chạy ra phố Cam Ranh, t́m đến nhà  Cậu của tôi gần đó, gia đ́nh Cậu tôi nhất quyết không đi đâu, gia đ́nh có vựa gổ rất lớn tai đây, có lẻ không muốn bỏ cơ nghiêp ra đi. Tôi lái xe trên đường ra lại cầu tàu, các phố nhà có cửa sắt hai bên đường đang bị nhửng đám đông đâp phá hôi của, cảnh hổn loạn hai bên đường trông rất nguy hiểm, và tôi củng nghe trại tù ở Nha Trang đă bi phá vở, dân chúng hồn loạn, đich đă tới cữa ngỏ Nha Trang, chiêc PCF vẩn c̣n chờ tôi ở cầu, thật sư tôi thật là liều lỉnh , nếu trên tàu họ lấy tàu ra khơi th́ có lẻ tôi kẹt lại Cam Ranh ..Tôi  lái tàu trở lại căn cứ HQ /V2ZH, trên biển, môt chiếc tàu nhỏ của lưc lượng pḥng thủ hải cảng tiến lại ,trên tàu họ đang áp giải năm người đàn ông măc dân phuc, họ nói rằng cần giao các đặc công này cho tôi, tôi trả lời rằng, tôi không có trách nhiệm tai vùng này, tôi từ vùng 1 vào đây, sau đó họ bỏ đi..trên đường trở  về căn cứ, tôi thấy chiếc HQ504 đang căp cầu, nơi mà lưc lương HQ Mỷ đóng hồi Mỷ c̣n tham chiến tai VN, trong ḷng tôi lo lắng là me, và em tôi và em ruôt của Lưu Văn Lể đang ở đâu, hay là tàu 504 cho ho xuống bờ đâu đó, tôi cho PCF vào môt nơi rất vắng vẻ, xung quanh tôi thấy nhửng chiếc pontoon sét rỉ,trên pontoon tôi thấy xác trẻ con chết đă lên mùi,  tôi căn dặn với anh em cơ hửu và gia đ́nh vợ là chờ tôi, tôi lên bải đât la liêt người qua lai, với cái nóng Cam Ranh trong tiết tháng ba, nhựa trên mặt đường nhèo nhẹt, dính cả đế giày, t́nh h́nh trở nên rất nghiêm trọng trên bải đât,  h́nh như không có đươc giot nước nào trên đó, không thưc phẩm, không nước ngot, không có phương tiện di chuyển, làm sao mà họ sống, tôi tự hỏi trong đầu…bổng nhiên có môt Trung Uy HQ chạy tới tôi, và la lên tàu đâu?tầu đâu ? vi SQ này nh́n thấy huy hiệu Hải Đội nên nghỉ rằng tôi có tàu, tức th́ lính TQLC-BĐQ chay đến bao xung quanh tôi, tôi nhanh miêng nói rằng tôi củng như các anh bị tàu lớn đổ xuống đây, và mẹ và em bị thất lạc nên tôi đi lang thang t́m gia đ́nh.. đám đông lại bỏ đi loanh quanh trên bải, chắc mổi người có một hoàn cảnh gia đ́nh thất lac như nhau.. tôi vội vàng lẩn trong đám đông và trở lai PCF và vội vàng tách bến, tàu tôi tiến đến chiêc HQ 504 đang cặp bến quân sự Mỹ , lính thủy thủ trên tàu ra dấu cho tôi không đươc tiến sát vào , với nhửng họng súng M16 chỉa về phia tôi, trên bong 504, tôi lặng người nhận ra bà thiếm họ và gia đ́nh di tàn từ ĐN trên bong tàu, họ la lớn cho tôi nghe…đói quá…đói quá…nhưng tôi làm sao giúp ǵ trong lúc tôi bi bắt buôt phải rời ngay, môt chị đang có bầu có lẻ củng gần tới ngày nằm cử  đang đứng gần chân cầu ra dấu cho tôi môt cách tuyệt vọng, tôi cố gắng đưa mủi tàu từ từ tiến vào cầu tàu, hàng trăm người chạy ào đến… tôi lại vội vả lui ra, cho đến giờ phút này cho đến bây giờ khi nghỉ lại cảnh trạng ấy, tôi vẩn cảm thấy ân hận là không đưa được chị có bầu ra tàu.

Tôi cho tàu cặp bến HQ thuôc BTL/V2ZH , đám SQ/HĐ1 c̣n khoảng trên dưới 20 mạng, thủy thủ trên các chiến đỉnh chằng c̣n là bao, phần lớn là gốc từ miền Nam đổi ra Trung, ngoài ra gia đ́nh và con cái nheo nhóc trên chiến đỉnh là của họ, c̣n phần lớn sỉ quan và binh sỉ cơ hửu gốc miền Trung, nhiều nhất là Huế  không c̣n được bao nhiêu, v́ gia đ́nh bi kẹt nên không c̣n muốn vào Nam.

Tôi nghe đám SQ đang đứng long ngóng trên cầu Cam Ranh nói rằng CHT muốn tất cả gia đ́nh binh sỉ rời tàu lên bờ, trên khu gia binh có đầy đủ gạo cơm, nước ngot, c̣n binh sỉ đi công tác hành quân???tiếp, các bạn SQ lai nói rằng ông CHT báo cáo với Tư Linh Vùng 2 là ông ta đưa đoàn tàu vùng 1 về Cam Ranh an toàn?? Bố khỉ, mạnh ai nấy lo, mạnh tàu nào là cứ tùy mổi thuyền trưởng định liệu, không lệnh lạc, có đem tàu về tới Cam Ranh là do mổi quyết định trên tàu đó mà thôi, lính cơ hửu không đầy đủ trên tàu, thậm chí không ai biết ai lúc đó.

Chúng tôi có linh tâp họp trên cầu tàu, tất cả SQ HĐ1 có măt tai Cam Ranh luc bây giờ, ông CHT đứng trên đài chi huy môt chiếc coastguard do Tr/Úy Lực làm thuyền trưởng, ông dỏng dac ra linh cho chúng tôi phài đưa gia đ́nh lên bờ, t́nh h́nh căng thẳng, ông ra lịnh cho Tr/Úy Lưc” anh đưa tât cả gia đ́nh anh lên bờ ngay..da!…da!” anh em nao núng có thề hành xử theo lời ông ta, tôi vôi vàng đi ṿng hang quân nói với họ rằng .. đưa gia đ́nh các anh lên bờ là chết cả lủ, gia đ́nh, con cái, … sẻ ket lai..Tr/Uy Nguyển Thai Nhiên phụ họa với tôi, Lac. Đ M đ…sợ.tôi tiêp tuc rỉ tai anh em là nhất quyết không tuân linh.. Ông CHT đứng trên bcao gằng giọng..”Tr/Uy Lac sách động, tôi sẻ đưa anh ra ṭa án quân sư mặt trân…các anh không tuân lịnh tôi sè nhờ quân cảnh giải quyêt…”sau đó có vài quân cảnh thơ thẩn xuống cầu tàu..đến đây, chúng tôi tư động tan hàng, leo lên các chiến đỉnh và rút ra khỏi cầu và neo gần xung quanh.

Tôi đưa tàu ra vịnh Cam ranh và tính tóan trong đầu là làm sao đưa tât cả người trên tàu về Vủng Tàu, do đó, mổi khi tôi thấy môt chiếc hàng hải thương thuyền nào trực mủi hướng Sài G̣n là tôi cho PCF chạy doc theo để  thăm hỏi, chiếc nào củng đầy người, dân quân lẩn lộn, có lẻ họ di tàn về miền nam. Bổng dưng một giọng nói trên môt thương thuyền vọng xuống…bác ơi, tàu này về Saig̣n…chợt nhận ra là ngưởi cháu gia đ́nh bà xả, tôi nhanh nhẹn cho quăng dây mủi PCF côt bên hông chiếc hàng hải, hai chiếc liền cẳp kè với nhau, tôi cho người trên tàu lên , chỉ c̣n hai nhân viên cơ hửu không muồn về SaiG̣n, tôi căn dăn với hai anh là ráng vào cầu Đá Cam Ranh đón ông Tr/Úy Lâu ngày mai, và tôi theo chiếc hàng hải Thương thuyền kể từ giờ phút đó.

Tôi đang ngồi tr6n bong tàu  hàng hải th́nh ĺnh năm người lính BĐQ  biên pḥng ôm chăt lấy tôi , văng tuc và tước khẩu súng colt tôi dắt sau lưng, có lẻ cái áo quân nhân xẽ giữa đă làm cho họ trông thấy khẩu súng của tôi..anh em BĐQ c̣n gán ghép tôi là VC trà trộn lên tàu..trong lúc đó môt người từ trong pḥng lái tiến đến và kêu tên tôi, tôi nhận ra đó là một cựu Đ/Úy hàng hải thương thuyền cùng với đơn vi CCYT/TV/AnThới năm nào, ông hiện là thuyền phó chiêc hàng hải này, ông ta đưa tôi và bà xả vào pḥng riêng và nói, ở lại đây không thôi tụi nó giết mày, tât cả súng đạn khi lên tàu đều bị tước hết để bảo vệ an ninh cho tàu.

VỦNG TÀU-CÁT LỞ

Tôi đưa tất cả gia đ́nh tá túc trong môt ngôi chùa gần bải sau Vủng Tàu, cả hai gia đ́nh tôi tạm ổn trong ngôi chùa này,  sau đó tôi nghỉ rằng với t́nh thế hổn loạn tai Vủng Tàu tôi nên vào Vùng 3 Zuyên Hải để thăm ḍ t́nh h́nh, tai đây, tôi đă găp một số lính và SQ thuôc HĐ1 đă không ghé CamRanh  mà đi thẳng đến Cat Lở, và ngày hôm sau các chiến đỉnh từ CamRanh cũng về tới Cát lở, và tại đây HQ Trung Tá Châu Văn  thay thế Tr/Tá Nguyển Manh Trí làm CHT/HĐ1. Tôi được CHT mới cắt cử làm Sỉ Quan đặc trách về tị nạn và ẩm thực, ngoài ra tôi có môt phụ tá là Tr/úy Tài . Sau này tôi nghe nói Tài, Bổn và Dự là ba sỉ quan Hải Độii nhưng là nội gián. 

Tại đây, tôi găp Tr/Úy Trần Ngoc On, hắn biết tôi từ Trung vào không c̣n môt cắc trong túi, hắn dúi vào tay tôi mười lăm ngàn để xài tạm. Hai ngày sau tôi nghe môt PCF chở On khẩn câp về binh viên Grall v́ bị đạn lạc vào lưng tại Vủng Tàu, củng nhăc lại On là môt cậu ấm Mỷ Tho, nhà giàu có tiếng, gia đ́nh On mua một rạp chiếu phim lớn nhất tai Vủng Tàu thởi bấy giờ, nếu On không có tiền trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng đó, th́ On không qua khỏi khi bị thương trong tháng Tư đó.

T́nh h́nh ngay tại Bộ Tư Lịnh /V3 củng không sáng sủa cho mấy, ngoài cổng, dân chúng đông nghẹt, có lẻ họ nghỉ rằng, chỉ có HQ là có phương tiện đi mọi nơi an toàn, tôi củng chẳng biết là đi đâu. Môt buổi sáng, tôi lấy xe chở bà xả trưc chỉ Sài G̣n, khi đến vườn tiêu gần Đại Ṭng Lâm, cả đ̣an xe bi kẹt, VC đắp mô đàng trước, tôi biết mật khu Hắc Dịch gần đó, tôi quay trở về lại Cát Lở, tôi đươc Tr/Tá Tô Văn nói với tôi…”Lac!!!c̣n chần chờ ǵ nửa, lấy môt chiếc tàu đi, tàu th́ nhiều mà thuyền trưởng lại thiếu..có ǵ th́ rút qua bên kia bờ song cho an toàn..”

Tôi tập hợp đươc 5 người lính tại Cát Lở trong đó ch́ có Tr/Si Văn Hưng là nhân viên trên tàu với tôi ờ HĐ1, c̣n bao nhiêu là lính HQ tai V3 tôi không hề biết họ. Văn Hưng cho tôi biết t́nh trạng dầu mở, nước ngot và lương thưc khá an toàn, tuy nhiên để cho chắc ăn, tôi dùng súng M16 bắn ch́a khóa connect để lấy thêm gạo, ch́a khóa SQ phu tá Tài đă đem đi và có lẻ ket tai SaiGon. Sau tiếng nồ Tr/Ta Nguyển Minh Thơ là CHT/CCYT/TV/CatLở tước súng tôi, sau đó ông cho tôi lại và ông ta nói không nên làm náo đông trong lúc này, tôi cám ơn ông và tàu tôi tách bến…tôi vần c̣n liên lạc đươc với Hải Đôi 1 tren tầng số truyền tin, Tr/uy Phạm Hoàn găp tôi trên biển, Hoàn nói…về SaiG̣n, treo cờ trắng …tôi biêt cả gia đ́nh Hoàn ket lai Đà Nẳng…tôi trả lời rằng, nghe nói tụi nó rút về miền Tây, tao không  lên SaiGon…

Buổi chiều , tôi đưa tàu vào lại Cat Lở, và trời băt đầu tối..môt thượng sỉ HQ /CatLở năn nỉ với tôi rằng, gia đ́nh có hẹn ông ta tại môt bến cá gần đó, khi có dấu hiệu đèn pin, xin cho vào rước gia đ́nh ông ta, tôi nói với ông ta, con sông này tôi không rành.. ông ta cam đoan với tôi là không sao cả…tôi nghe lời ông ta từ từ cho mủi tàu hướng vào bờ…bổng dưng con tàu khựng lại và nghiêng môt bên..tôi la lớn…mắc cạn rồi…tôi thực sự mất b́nh t́nh và văng tuc, giong tôi có lẻ làm cho anh em trên tàu hoảng sợ, hai anh lính nhảy xuống bải cát kê vai đẩy tàu…họ củng mất tinh thần nên rối loạn, tàu nằm nghiêng hẳn trên cát..vô vọng..

Đêm tối đen, tôi thấy vài ánh đèn le lói đàng sau, tôi chợt lóe lên ư nghỉ là kêu nhửng chiếc ghe dân này cột xung quanh, và may ra đường cùng là nhờ họ đưa ra khơi t́m tàu bạn..tôi bảo Văn Hưng kêu họ lại và hứa hen là sáng mai nếu các ông cho tôi ra biển, tôi cho các ông lên tàu lớn..ho lại nói rành rẻ hơn tôi là cho họ đi Mỷ…thât sự tôi có biết đi đâu là đâu…tôi hứa đại là tôi hứa cho hết gia đ́nh các ông đi Mỷ..và họ lai nói rằng khuya nước lên, các ông sẻ ra được.

Đang nằm trên tàu, tôi nghe tiếng lách cách…quả thật nước dâng lên và đưa tàu ra khỏi chổ cát, nhưng sau đó, một chân vit bi rung v́ cong. Tôi thực hiền lời hứa là cho các người dân đánh cá “đi Mỷ” tôi nói các ông neo ghe lại, leo lên tàu tôi, tôi đưa ra tàu lớn đi Mỷ..hai chiêc ghe là tài sàn ,heo, gà, đồ đac trên đó, ho không chiu buông ghe và từ giă tôi .

Trên đường ra lại vịnh Vủng Tàu, tôi bắt găp soái hạm Coastguard 710 của HĐ1, trên soái hạm tôi thấy có Tr/Ta Nguyễn Manh Trí, Tr/Tá Tô Văn, Tướng Phan Ḥa Hiệp trưởng phái đoàn Quân sự hai bên, môt số sỉ quan bộ binh  câp Đai Tá , vài Trung Úy HQ trên soái hạm, tôi nghỉ trong đầu là theo đuôi chiếc này là ăn chắc, v́ tôi không biết rỏ t́nh h́nh lúc bấy giờ…trên tàu có nhiều sỉ quan cao cấp, có lẻ họ biết tin tức nhiều, tôi nghỉ như vậy.  Mặc dù tàu tôi chỉ c̣n một gị nên vận chuyển rất khó khăn, nhưng tôi vẩn cố gắng bám sát sau đuôi soái hạm như h́nh với bóng.

 Soái hạm cập cầu trước mặt Trung Tâm Huấn Luyện Cảnh Sát Rạch Dừa, tôi cập cầu đàng sau soái hạm cách khoảng năm mét, và tôi ra lịnh tắt máy tàu với ư nghỉ là dành nhiên liệu… bổng có nhiều tiếng súng nổ vang trên quốc lộ và hàng loạt người, quân cũng như dân trực chỉ chạy xuống bến môt cách vội vả…tôi khởi động máy để tách bến, nhưng máy không nổ, tôi chụp lấy khẩu M16 nhảy ra trước mủi PCF đồng thời tôi ra lịnh cho Trung Sỉ Văn Hưng, lính cơ hửu của tôi leo lên dàn đai liên 50 sẳn sàng nhả đạn nếu soái hạm không kéo, tôi thấy các SQ bên soái hạm chạy vội vào trong buồng tàu và môt người ra lịnh cho môt vị Trung Úy HQ chạy ra buông giây, tôi hét lên và đưa súng chỉa và  áp đảo vị Tr/Úy rằng” quăng giây qua nhanh lên”..vị SQ chạy vội vô tàu, rồi tức tốc chay ra quăng giây qua tàu tôi, và người lính trên tàu tôi côt chặc vào mủi, và hai tàu vôi vàng tách bến.

Tôi cảm thấy an tâm là kể từ giờ phút này, tôi không c̣n lái môt chiếc tàu chỉ c̣n môt chân vit rất khó khăn, và thêm nữa, soái hạm có tân chỉ huy trưởng Tô Văn trên đó.

 Trung Tá Tô Văn lên máy truyền tin 46 và bảo tôi bẻ cổ, danh từ chúng tôi thường dùng khi muốn nói chuyện riêng trên tần số, vă lại tần số hiện hửu rất ồn ào. Tô Văn nói” anh Lạc, tôi là CHT của anh, bây giờ tôi sẻ đưa tàu anh ra một ponton trên vịnh, và để cho anh côt tàu ờ đó, c̣n tôi phải đi rước thêm môt số cấp Đai Tá bộ binh đang ket trong bờ…”trong đầu tôi chợt nghỉ, tàu bi hư mà côt ở môt chổ trên biển th́ củng chết…tôi trả lời rằng “dạ, comandant cho con cá nào căp kè với tôi trước, rồi tôi sẻ buông giây, trong lúc đó tôi thấy có chiếc coastguard 709 do Trung Úy Trần Châu gần đó, tôi nói với CHT là xin cho 709 cặp với tôi…và trong chốc lác Trần Châu lên máy..”Lima.. đây Charlie đây, tao sẻ căp kè mày ngay bây giờ, và  tôi buông soái ham kể từ giờ phút đó. Chúng tôi tức tốc tháo gở đạn dược và di chuyển tất cả quân dụng và sung ống lên tàu 709 và bỏ lại tàu không trên biễn. Sau đó tất cả mọi người đều được đưa lên HQ 802.

Trên 35 năm qua, những h́nh ảnh tang thương , đau buồn của đất nước trong những ngày di tản buồn vẩn in đậm nét trong kư ức  mổi người trong chúng ta, cuộc chia tay ra đi nào cũng tràn đầy nước mắt, nhưng cuộc ra đi khỏi quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn biết bao nhiêu kỷ niệm là điều đáng nói hơn cả, và nổi niềm vong quốc có lẻ không bao giờ quên.

Kiến Lửa Lạc

 

 

 

Hồi Kư Về Những Giờ Phút Chót Tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH

 

Tư Lệnh HQ, Đáp Ứng T́nh H́nh Di Tản

 

Lễ nhậm chức của tân Tư Lệnh Hải Quân diễn ra vào trưa ngày 24 tháng 3-75 có khoảng 7 Tư Lệnh các vùng đứng 1 hàng ngang trước bàn tư lệnh chứng kiến và một sĩ quan báo chí hiện diện để quan sát và tường thuật, trong văn pḥng Tư Lệnh nhỏ nhắn trên lầu hai nằm bên tay mặt của trụ sở Bộ Tư Lệnh trông ra bến Chương Dương.

Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang lúc đó đang là Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, một trong vài “chỗ ngồi” sáng giá nhất chung quanh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông được đổi về gấp nhậm chức Tư Lệnh Hải Quân lần thứ nh́ sau khi đă rời Hải Quân trên 10 năm về trước. Điều này cho thấy kế hoạch “di tản và lui binh” là mối quan tâm nhất của Tổng Thống Thiệu trong việc bổ nhậm chức vụ này. Ông Cang thổ lộ rằng nếu c̣n ở vị trí Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô trực thuộc Bộ TTM, th́ ông sẽ ở lại Sài G̣n tử thủ.

Hồi đảo chính tháng 11 năm 1963, lần đầu ông Cang được giao nắm chức vụ Tư Lệnh Hải Quân cũng là v́ được ḷng tin cậy của nhóm tướng lănh đối với ông. Và lần đầu ông làm tư lệnh kéo dài khoảng 16 tháng. C̣n lần thứ nh́ này với cấp bậc cao hơn và giao tiếp khẩn cấp rộng lớn hơn hẳn trước nhưng ông cũng chỉ ở lại chức vụ khoảng trên một tháng, với một kế hoạch di tản Quân Lực VNCH và các công nhân viên chức chánh phủ khi có nguy biến, để về Miền Tây, tập trung tại Côn Sơn hoặc đi tị nạn.

Lễ Bàn Giao căng thẳng đó gồm cả những người đă có bất hoà trước đây với cá nhân tân Tư Lệnh cũng hiện diện như: Phó Đề Đốc Nghiêm Văn Phú, Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng.

Chỉ vài ngày sau ngày nhậm chức ông đă thành lập đơn vị Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 bao gồm những Giang Đoàn Ngăn Chặn và nhiều Căn Cứ Hải Quân do Đại Tá Lê Hữu Dơng là tư lệnh, với sự đóng góp đáng kể của Phó Đề Đốc Phú.

Tân Tư Lệnh Chung Tấn Cang lúc đó có cấp bậc cao nhất quân chủng, và ngang cấp với các tư lệnh quân binh chủng khác, dễ dàng nói chuyện với Dinh Độc Lập và Tổng Tham Mưu. Trong những ngày giờ dầu sôi lửa bỏng đó, quả ông đă quan tâm thực sự đến kế hoạch “Di Tản” một cách chặt chẽ, với tiêu chuẩn phải mang đi được nhiều tướng lănh, quân nhân của các quân binh chủng khác và Hải Quân, dĩ nhiên.

Và ông thường xuyên có mặt trong Trung Tâm Hành Quân thuộc Bộ Tư Lệnh Hành Quân Lưu Động Biển, trong tầng Ba một cao ốc tân kỳ mới xây vài năm. Ông ngồi bề thế chỉ huy oai nghiêm như một Tổng Tham Mưu Trưởng chiến trường Lục Quân. Phó Đô Đốc Cang liên lạc hàng ngang với Tổng Thống và giới chức cao cấp nhất của Tổng Tham Mưu, cũng như bên Biệt Khu Thủ Đô.

 

BTL/HQ Và Cuộc Di Tản QK 1 & Tướng Trưởng

 

Tư Lệnh Chung Tấn Cang theo dơi giải quyết cuộc di tản và t́nh h́nh trận liệt ngoài Quân Khu 1, và Đà Nẵng.

Ông biết từng bước đi của Tướng Bộ Binh, Tướng Không Quân và các đơn vị tác chiến với những khi tạm trú trong căn cứ HQ Đà Nẵng hoặc TTHQSĐ/TQLC. Sĩ Quan Báo Chí của Hải Quân lúc đó cũng được chỉ định ngồi không xa những hải bàn chỉ huy của vị tướng Hải Quân ba sao này.

Tướng Trưởng, Tướng Lân, Tướng Khánh, Phó Đề Đốc Thoại… thường xuyên họp tham mưu tại TTHQ/ Sư Đoàn TQLC hiện đóng tại Non Nước (Đà Nẵng),

Trong khoảng thời gian này hai sĩ quan của BTL Sư Đoàn TQLC vừa trúng pháo của VC khi đang trên mặt nước để lên chiến hạm, đó là Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc và Trung Tá Đỗ Hữu Tùng, theo như lời thổ lộ của Trung Tâm Trưởng TTHQ/SĐ/TQLC Trần Vệ và sĩ quan TQLC, Tô Văn Cấp. Vào phút chót Trung Tướng Trưởng đành bó tay, đă rời bỏ Quân Khu I… Nếp đạo đức, khôn ngoan và thói quen chịu đựng đau đớn cho thấy ông tướng danh tiếng này, vượt thắng hơn sự tính toán của TT Thiệu… Theo lời một sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến cho biết, Tướng Trưởng ngồi lẻ loi trên ghế bố cùng với Đại Tá TLP/TQLC Nguyễn Thành Trí và độc nhất một anh lính truyền tin Bộ Binh, chờ ôm poncho lội nước để lên Hải Vận Hạm 404 vào lúc 10 giờ sáng ngày 29-3, thay v́ tin theo lời hứa hẹn của Sài G̣n là: “Cứ ở yên trong đó không lội ra khơi chờ đến khi HQ 404 vô đón”. Và ông đă phải chọn một bộ quân phục vải xám của Hải Quân để mặc trong suốt thời gian tạm trú trên tầu.

Dù theo dơi chặt chẽ, nhưng thực ra Trung Tâm Hành Quân HQ ở Sài G̣n không nắm vững được phương vị di chuyển của Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Tướng Ngô Quang Trưởng: Khi ông ra tới Chiến Hạm, th́ Tướng Hồ Văn Kỳ Thoại vẫn c̣n đang thất lạc ở bờ biển chờ tiểu đỉnh vào đón. Và trước đó, một vài viên chức người ngoại quốc đă được sắp xếp lên HQ-5 rồi. .

Em trai của Phó Đề Đốc Thoại là Hồ Văn Kỳ Tường, Hạm Phó HQ-5, đă cầm tận tay công điện Mật của chính Tổng Thống giao cho Tướng Trưởng và nói: “Tổng Thống muốn Trung Tướng theo tiểu đỉnh trở lại đất liền để tiếp tục chỉ huy”. Sau khi đọc công điện một lúc khá lâu, Tướng Trưởng đă xin với Sài G̣n để được cùng với TQLC “tiếp tục chỉ huy trên Bộ Tư Lệnh Nổi tại Hải Vận Hạm HQ 404”….(Thực ra không ai rơ ngày giờ ấy: Tướng Trưởng đang ở chiến hạm nào?)

Trung Ương sau một khoảng thời gian chờ đợi, đồng ư cho Tướng Trưởng được theo chiến hạm xuôi về Nha Trang, Phan Rang về đến Sài G̣n. Buổi chiều cùng ngày, tin từ Đà Nẵng gọi về cho Tư Lệnh Chung Tấn Cang biết một oanh tạc cơ không rơ của Không Quân VN hay Hoa Kỳ đă bắn lầm một Hải Vận Hạm, có lẽ là Hộ Tống Hạm lọai 400, gây cho khoảng 4 sĩ quan cùng với nhân viên, thủy thủ trúng thương và tử nạn.

Một sĩ quan trẻ được báo cáo tử nạn là HQ Trung Úy Chiến Binh Nguyễn Độ, cũng là người bạn cùng đơn vị của tôi trong Hải Quân vài năm trước. Tin buồn này cứ ám ảnh trong ḷng tôi như không bao giờ nguôi quên.

Không đầy một tuần sau, khi chiến hạm có Tướng Trưởng về đến cầu tầu Tư Lệnh HQ, Pḥng Báo Chí cũng theo ra đón Tướng Trưởng, chứng kiến tận mắt cảnh tượng Tướng Chức thay mặt Tổng Thống Thiệu tỏ rơ sự bất b́nh. Có tin là Tướng Trưởng bị quản thúc cùng với một số tướng khác qua lệnh của Tướng Trần Văn Đôn.

 

Tuyến Thép Phan Rang Và Phó Đề Đốc Minh

 

Chỉ vài ngày sau khi Đà Nẵng thất thủ, Bộ Tư Lệnh Hải Quân đă muốn Pḥng Báo Chí chuẩn bị các bài diễn văn soạn sẵn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tướng Viên và Tư Lệnh Hải Quân nhằm nêu cao vai tṛ “Tư Lệnh Tuyến Thép” và một Sĩ Quan Báo Chí theo ra Nha Trang giao trực tiếp để trao tận tay và đề cao chiến dịch mới: “Tuyến pḥng Thủ cuối cùng dự định tại Nha Trang, mang tên Tuyến Thép, do PĐĐ Hoàng Cơ Minh là Tư Lệnh Chiến Trường- là vinh dự cho HQVN”, nhưng lễ nghi quân cách và lệnh chưa kịp chính thức loan tải và phát thanh th́ lănh thổ kiểm soát của VNCH đă phải cắt thêm về tới Tuyến Thép Phan Rang. Rồi cũng từ Phan Rang, chưa kịp thực hiện những nghi lễ trang trọng bảo vệ Tuyến Thép th́ Tư Lệnh, lẫn sĩ quan báo chí đă phải theo Chiến Hạm chạy dọc theo bờ duyên hải để đón người di tản từ Phan Rang và các thành phố khác nữa xuôi Nam. Tôi, sĩ quan Báo Chí HQ, có dịp rút lui khỏi Nha Trang, đi chung Chiến Hạm với Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, cùng gặp gỡ trong pḥng ăn Sĩ Quan Chiến Hạm cùng những lúc chen chân giữa quân nhân tác chiến, và heo gà trên chiến hạm kêu oang oác, ồn ào.

Đây là dịp tôi có giờ tṛ chuyện riêng tư với Tướng Minh. Chúng tôi kể lại thời ăn cơm chung giữa chúng tôi với nhà văn HQ Chu Sĩ Lương, Sĩ Quan Tùy Viên HQ, Lê Rĩnh; HQ Trung Tá Lê Công B́nh; Thiếu Tá Phi Đoàn Trưởng Thần Trùy 211; Nguyễn Kim Hườn, với Thiếu Úy KQ Trần Thuỵ Chi thường chở ông trên trực thăng, những ngày tôi được quan sát cuộc hành quân Thủy Bộ, ông tiếc cho buổi triển lăm tranh ở Hội Việt -Mỹ khai mạc đầu tháng Tư sẽ không có nhân vật chính là tôi về kịp tham dự… Chúng tôi ngậm ngùi chung những mất mát… Và chúng tôi lênh đênh như thế trên biển hơn 3 ngày, chen lẫn trong số hàng ngàn chiến binh tướng tá di tản, trên cả 3 soái hạm, HQ 2, HQ 3, HQ 5 và bao gồm cả Dương Vận Hạm HQ 500

 

Hải Quân Họp Tiết Lộ Chi Tiết: Di Tản

 

Bộ Tư Lệnh Hải Quân và Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Tư Lệnh Hạm Đội đă họp với khoảng 100 hạm trưởng các loại chiến hạm lớn nhỏ vào chiều ngày 26 tháng 4, ông Sơn tuyên bố rằng lấy quyền- Tư Lệnh Hạm Đội thông báo đến quư vị hạm trưởng rơ 3 chuyện:

“Vũng Tầu, Phan Rang và Bộ Tổng Tham Mưu đă tan ră, địa điểm Sư Đoàn 3 Không Quân đang bị dội bom, trong khi Hạm Đội HQ c̣n an toàn và nguyên vẹn, chúng ta chuẩn bị tinh thần có thể di chuyển về Phú Quốc.”

Chỉ vài ngày sau hôm 28-4 Đại Tá Sơn bị “cách chức”, người thay thế là Đại Tá Khuê. Ông Khuê tuyên bố trong buổi họp đầu tiên để trấn an và đánh lạc hướng: “Di tản không đặt ra nữa v́ Hoa Kỳ đă giúp ta thả bom CBU ở Xuân Lộc, ta sẽ thắng…”

Vào sáng sớm ngày 29-4 lại có một cuộc họp tham mưu cao cấp cho biết: “nếu không có một phản lệnh nào khác, th́ toàn bộ Hạm Đội sẽ rời Bộ Tư Lệnh Sài G̣n vào lúc “Không Giờ”- Khuya 29 rạng 30, các hạm trưởng cứ thế mà tuân hành.”

Trong khi đó th́ Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu khi bỏ Bộ Tư Lệnh Vùng về Sài G̣n, ông thường xuyên có mặt tại Căn Cứ Hải Quân Cát Lái, cùng với toán Quân Cảnh và toán nhân viên làm một nút chặn ngay tại ngoài tuyến đường lộ gần căn cứ, nơi được đặt là trại tị nạn cho quân nhân và đồng bào về từ Phú Quốc. Trong lúc đó HQ Đại Tá Trần Văn Triết điều khiển kiểm soát ṿng đai Hải Quân Sài G̣n.

Vào lúc 5 giờ 30 chiều 29-4-75, cơn mưa chiều vừa tạnh, khi Hạm Trưởng Đinh Mạnh Hùng của HQ 2 mang tên Trần Quang Khải, chuẩn bị xuống chiến hạm, chuẩn bị công tác chiến dịch “Di Tản-Lui Binh”, Sĩ Quan BTL Ưng Văn Đức (một Trung Tá và một Thiếu Tá) thi hành lệnh của Đại Tá Triết đă đến ngăn cản không cho hạm trưởng và nhân viên được xuống tầu di chuyển nếu không do chính ông cho phép.

Hạm Trưởng Đinh Mạnh Hùng đă bị cản không được xuống tầu, đă phải dùng máy liên lạc cho một tiểu đỉnh đón ông trước nhà hàng Majestic, và lên tầu phía tả hạm, bằng thang dây.

 

Tổng Thống Dương Văn Minh Đồng Ư Cho Di Tản Về Miền Tây

 

Cũng khoảng 4 giờ chiều hôm ấy, trong cơn mưa nhỏ và mây xám, Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí, Tư Lệnh Hành Quân Lưu Động Biển đă cùng với gia đ́nh Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh xuống HQ 3. Trong khi Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh đứng trên một chiếc PCF, đậu ngay cầu tầu Tư Lệnh để dàn xếp mọi diễn biến. Lệnh chiến hạm “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Và cho đến chiều tối mới chuyển qua HQ 5, chiến hạm này được chọn làm soái hạm chỉ huy cùng với Tư Lệnh Chung Tấn Cang.

Đô Đốc Cang muốn bảo toàn đơn vị đến giờ chót hoặc lên đường ra Phú Quốc hoặc Miền Tây. Những điều này khi tŕnh bày với TT Dương Văn Minh đều được Tổng Thống gật đầu và không phản đối điều ǵ. Chủ trương của ông Cang cùng với các vị tướng tham mưu là không chấp nhận liên hiệp. Xung quanh ông là những tướng lănh chủ trương chống Cộng, chống Liên Hiệp với CS… như Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng, Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí.. Và Phó Đề Đốc Nghiêm Văn Phú, là một sĩ quan chỉ huy mà trước đây từng có những bất ḥa riêng với Tư Lệnh, nhưng chính cuộc chiến đấu và di tản cuối cùng gay go này đă đưa những người có những bất đồng ngồi lại gần nhau.. cùng hữu hiệu làm việc.

Họ thường xuyên liên lạc với Đại Tướng Minh, Đại Tướng Minh đă bày tỏ rơ ư muốn ở lại của riêng ông, và mệt mỏi đồng ư cho các đơn vị quân đội và HQ được quyền tự giải quyết hoặc đưa quân nhân các cấp “di tản… lui binh”, sau khi ông cảm thấy đă tuyệt vọng và bị lừa.

Phó Đề Đốc Chí, tức nhà thơ Hữu Phương lại là vị tướng độc nhất trong BTL HQ (?) muốn phá hủy cơ sở Trung Tâm Hành Quân để bảo mật. Trong lúc rời nhiệm sở, ông nói ra ư định muốn dùng lựu đạn lân tinh để tiêu hủy hồ sơ theo mục đích bảo vệ những người c̣n kẹt lại và ngăn chặn khi VC tới. PĐĐ Chí sau đó xuống chiến hạm bằng tiểu đỉnh và lên bằng thang dây v́ cầu tầu đă bị kiểm soát nghiêm nhặt.

Các pḥng sở khác êm ắng như nhà hoang cửa trống, ai cũng túa ra về v́ tất cả họ tâm trạng đều rối bời, không ai tiếc nuối ǵ hoặc có một hành động ǵ khác, ngoài nhóm người thân cận với tân Tổng Thống Dương Văn Minh th́ vẫn cố vớt vát t́m giải pháp… chiến đấu (?)… Có lẽ v́ vậy vài sĩ quan Hải Quân giờ chót chưa đi, gốc Miền Nam, thân cận với ông Dương Văn Minh khi ở lại, vừa bị trên 16 năm tù “cải tạo” vừa bị mang tiếng là đặc công nằm vùng! như Đại Tá Nguyễn Văn Tấn, được khẩu lệnh của TTMinh hành xử quyền Tư Lệnh Hải Quân, Trung Tá Lê Như Linh, Trưởng Pḥng Tâm Lư Chiến Bộ Tư Lệnh HQ, Thiếu Tá Trần Bá Hạnh, Phó Trưởng Pḥng TLC.

Suốt bao nhiêu năm trong Hải Quân tôi chỉ biết có một Trung Sĩ Tâm Lư Chiến, Huỳnh Thanh Vân, cũng là tài tử điện ảnh, là cán bộ nằm vùng sau 1975 đă trở thành thủ trưởng pḥng Tài Chánh và Ngân Hàng Quận Tân B́nh. C̣n những tiếng đồn khác như nhà văn Chu Sĩ Lương và những người khác ở lại, hoặc không đi được gọi họ là “nằm vùng” th́ tôi không tin.

Phó Đô Đốc Cang, theo sát an ninh vào những giờ cuối cùng. Ông liên lạc với TTM, cũng như Đại Tá TQLC Cổ Tấn Tinh Châu, chỉ huy trưởng Đặc Khu Rừng Sát và Thủy Tŕnh sông Ḷng Tảo, Vàm Cỏ – Soài Rạp… để giữ an ninh cho đoàn chiến hạm có khả năng di chuyển trên sông Sài G̣n trong ṿng vài giờ ra khơi, cùng hướng về điểm hẹn đặt dưới quyền chỉ huy toàn diện của chính ông, không trở thành mục tiêu của VC sẽ trải dài hai bên bờ sông. Ông Cang là vị tướng đă thu gọn quân nhân dưới quyền tập hợp di tản nhẹ nhàng nhất mà chắc rằng không ai có khả năng điều động rộng lớn và khó khăn được như thế.

Nếu không có lệnh đầu hàng, và nếu không có lệnh khác th́ một khối lượng lớn tướng lănh, sĩ quan, quân nhân các quân binh chủng và Hải Quân đă có mặt tại Miền Tây (?), như chính lời ông Cang cho biết như vậy.

Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 cũng là con đẻ của ông, một tổ chức cần thiết để giữ an ninh giờ chót cho Sài G̣n. Có lẽ chính v́ thế mà nhiều người c̣n rời Sài G̣n được trong ngày 30-4, như cụ thể trường hợp nhà thơ Nhất Tuấn, và nhiều người khác c̣n cơ hội lên được Quân Vận Đỉnh 9604 ra khỏi sông Sài G̣n từ Nhà Bè hoặc Tướng Trung và Tướng Vĩnh Lộc rời Sài G̣n trong khoảng 4 giờ trên sông mà không bị VC bắn từ hai bên bờ sông.

Tới trưa 30-4, những vụ hôi của dọc kho Trịnh Minh Thế và Khánh Hội gây ra những vụ nổ súng và khói lửa trong khi VC vẫn chưa xuất hiện dọc đường như nhiều người lo âu.

 

Hải Quân Ra Khơi

 

Tư Lệnh HQ Chung Tấn Cang đă không ra đi bằng phương tiện hàng không. Mặc dù cũng giống như Phó Đề Đốc Chí, Đề Đốc Chơn, Đại Tá Tấn –Khối An Ninh HQ đều được cơ quan DAO dành chỗ sẵn để họï lên máy bay.

Trước đó một ngày, Đề Đốc hồi hưu Trần Văn Chơn ra Vũng Tầu đón cha mẹ về cùng đi, chờ lên máy bay của Quân Đội HK, nhưng cuối cùng ông đă quyết định ở lại. Con trai, là hạm trưởng HQ 601, HQ Đại Úy Trần Minh Chánh, cũng từ chối cùng di tản trong chiều tối 29/4.

Trong cơn mưa chiều 29, vài tướng lănh bị “tạm giam” trong khu vực BTL Hải Quân như: Trung Tướng Lâm Quang Thi, Lâm Quang Thơ, Nguyễn Bảo Trị, Nguyễn Đức Thắng, Phạm Quốc Thuần, Chuẩn Tướng KQ Nguyễn Đức Khánh… được Hải Quân nhanh chóng mời đón lên chiến hạm HQ. 2 cùng di tản chiến đấu.

Phó Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh vừa rời chức vụ Tư Lệnh Hải Quân tháng trước, ngày đó cũng mới từ xa về, được hướng dẫn xuống Soái Hạm HQ 1, đậu ở vị trí 1 gần sát đường lộ mặt tiền BTL.HQ. HQ 1 rời bến đầu tiên sau đó mắc cạn phải chờ kéo đi.  Ở vị trí số 2 cặp chính giữa là HQ 3 – Phạm Ngũ Lăo, Ngoài cùng vị trí số 3 là HQ 2 – Trần Quang Khải do Trung Tá Đinh Mạnh Hùng là Hạm Trưởng đă tuân theo kế hoạch rời bến gần giữa đêm “giờ Zéro”.  Có các chiến hạm khác kể cả các chiến hạm PCF trong nhóm tầu của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh chỉ huy đă rời bến từ sớm. Mỗi khi có một chiến hạm tách bến lại có vài người trên bờ nổ súng… Và nhiều trực thăng bay lượn xa gần ṿng quanh Bộ Tư Lệnh càng lúc càng nhiều như muốn được nhảy xuống nước để được HQ vớt.

Khi Chiến hạm rời bến, người ta nh́n thấy ngọn lửa đang bốc cao từ Kho Đạn Thành Tuy Hạ và Kho Xăng Nhà Bè. Mặc dù trước đó cũng có nhiều người rời Sài G̣n từ khu vực Quân Cảng vùng Cát Lái hướng về Phú Quốc. Trong lúc này Phi Trường Tân Sơn Nhất và Bộ Tư Lệnh Không Quân đă là trọng điểm của những đợt pháo kích, nhiều cấp tướng và cấp tá đă cho biết họ không c̣n t́m được máy bay để rời Sài G̣n. H́nh ảnh Bộ Tư Lệnh Hải Quân và sông Sài G̣n bị pháo kích cũng trong tầm tiên liệu và lo âu như phi trường, nhưng làn sóng người vẫn kéo về thật đông.

Sáng sớm ngày 30 tháng 4, theo lệnh từ Trung Ương chính phủ, HQ Trung Tá Lê Như Linh cho phát ra lời kêu gọi các chiến hạm đừng rời bến trên hệ thống tryền tin nội bộ. Riêng HQ Đại Tá Nguyễn Văn Tấn quyền Tư Lệnh BTLHQ, sau khi đi họp với Tướng Vĩnh Lộc từ 7 giờ 30 sáng, có cả ông Vanuxem cựu tướng lănh Pháp trong buổi họp này. Tướng Vĩnh Lộc đă ra lệnh Hải Quân phải cung cấp chiến hạm cho ông. Trở về BTL/HQ ngay sau đó Đại Tá Tấn đă ra lệnh cho Sĩ Quan Báo Chí viết các lời kêu gọi của TL/HQ “ban hành lệnh cho anh em chiến sĩ tiếp tục giữ vững tay súng” và không đi đâu cả. Sĩ Quan Báo Chí HQ lúc ấy đă không viết hoặc đọc được lời kêu gọi này.

Trưởng khối CTCT là Đại Tá Triết đă rời nhiệm sở, để nắm quyền kiểm soát, cho phép từng người xuống chiến hạm. Theo lời Tướng Chí cho biết: ông Triết đă rời bến nhanh chóng và có mặt ở Phi đầu tiên, mà không đi theo 3 phân đội di tản của HQVN.

Lúc bấy giờ Bộ Tư Lệnh HQ có Thiếu Tá Trần Bá Hạnh là người thân cận nhất với hàng tổng trưởng mới, thân tín của Tổng Thống “Big Minh”. Ông Hạnh đi ra đi vào nói năng với nét mặt lạc quan, kể cả trong giờ phút tân nội các Vũ Văn Mẫu đ̣i trục xuất cơ quan DAO và lực lượng Hoa Kỳ. Thực sự Tướng Cang, là người lâu nay thường xuyên liên lạc chặt chẽ với Tổng Tham Mưu, Dinh Độc Lập, với ông Thiệu… Ông nổi danh từ khi tham gia đảo chánh 1-11-63 thành công. Nhưng giờ phút này ông Cang để cho Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy có Thiếu Tá Phước đi cùng, thay mặt ông là “con thoi” với ông Dương Văn Minh khi cần.

Các chức vụ xung quanh Tướng Cang như: Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí, Tư Lệnh Hành Quân Lưu Động Biển; Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Tư Lệnh Hạm Đội; Đại Tá Đỗ Kiểm, Tham Mưu Phó Hành Quân; Đại Tá Luân, Chỉ Huy Trưởng Khối Tiếp Vận; Đại Tá Phạm Mạnh Khuê-tân Tham Mưu Trưởng Hành Quân Biển, thế chỗ Đại Tá Sơn vào ngày chót; Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy, Tham Mưu Trưởng Hải Quân; Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Tư Lệnh Hành QuânLưu Động Sông; Đại Tá Dơng, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Nhiệm 99. Những cách biệt cá nhân không c̣n nữa, cuộc di tản mang họ lại gần nhau.

Riêng trường hợp cá nhân tôi, là một sĩ quan rất trẻ, lúc ấy mang cấp bậc Trung Úy, và phục vụ trong pḥng Báo Chí thuộc BTL/HQ, tôi c̣n nhớ trong những giây phút hoang mang ấy có bạn thân quen lo toan xung quanh. Như Đại Úy Đặng Phú Thiệt từ Đại Học Chiến Tranh Chính Trị về phục vụ trong Khối Chính Huấn Hải Quân cũng bàn với tôi, chiếm đoạt một chiến hạm loại nhỏ càng sớm càng tốt rời Sài G̣n ra đi khi bị bỏ rơi.., Trung Tá Trịnh Tiến Hùng, rất thân, ông cũng là cánh tay mặt của Đại Tá Sơn, sau khi lo cho người thân và nhân viên thuộc cấp cũng muốn tôi và gia đ́nh lên tầu, ông Hùng đă lên máy bay đi vào ngày cận chót.

Như anh Nguyễn Viết Kim tức nhà văn Người Khăn Trắng, trong ngày 29 tháng 4, nhân việc đi săn tin tức, chở tôi trên chiếc xe Honda đàn ông đỏ của anh, tâm sự với nhau những lời từ giă v́ vợ con anh đă ra Vũng Tầu và ra khơi rồi. Anh đang t́m đường gấp rút ra đi. Chúng tôi nói những lời chia tay từ đó.

Như Vơ Hà Anh, vừa là Thượng Sĩ phóng viên và cũng là nhà văn nổi tiếng thời ấy tên Dung-Vơ Hà Anh, th́ rất chu đáo và lo cho pḥng Báo Chí chúng tôi những giấy tờ lên máy bay đặc biệt do cơ quan DAO cấp cho thân nhân người Hoa Kỳ

Như Thiếu Tá Nguyễn Đ́nh Sài, tác giả của vài bài thơ mới thời ấy vẫn rất nghiêm chỉnh cùng với nhóm sĩ quan BTL vào doanh trại kiểm soát các toán trực gác mỗi đêm kể cả vào những đêm cuối.

Và chúng tôi vẫn gặp bạn cũ, Đại Úy Lê Rĩnh, tùy viên của Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng; Hà Thúc Sinh say mê làm thơ và dịch sách là Trung Uư đơn vị trưởng Hải Tiếp Vụ tại HQCX. Tuy nhiên giống như trường hợp nhiều người khác, họ cũng không liên lạc được với máy bay của DAO, v́ con số người cần bốc khỏi Sài G̣n ngày càng tăng, nhiều quân nhân và giới chức Hoa Kỳ vẫn chưa kịp lên máy bay rời Sài G̣n được…

Và dù biết danh sách các địa điểm trực thăng đón và có danh sách được đón đi, tôi cũng chẳng màng chờ nghe bài hát White Christmas được cho biết mật từ một tuần trước..

Tôi không c̣n gặp một bạn hữu hoặc nhân viên nào của Pḥng Thông Tin Báo Chí nữa, như Triều Dương, Nguyễn Tất Ứng, Trung, Cẩm Vân… từ chiều 29-4-75.

Đêm 29–4 tại Bộ Tư Lệnh, Sĩ quan và đoàn viên, họï gọi nhau ới ới, mở lối đi về hướng cầu tầu cho quân nhân “Xuống tầu đi ḱa, gấp lên tầu rời bến đêm nay…” Chiếc TV để giữa cổng ra vào từ đêm 21-4, ông Thiệu đọc diễn văn từ chức vẫn chớp h́nh mà không ai muốn nh́n. Tôi lại rời BTL, lái xe về nhà với ư định mang gia đ́nh xuống chiến hạm ra đi theo bạn bè, đồng đội.

 

Chi Tiết Di Tản Của Hải Quân Và Ông Armitage

 

Lúc này có một sĩ quan liên lạc cấp tốc từ Hoa Thịnh Đốn cử tới là cựu Thiếu Tá Richard Armitage, là tùy viên viên quân sự Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ. Nay là thứ trưởng Bộ Ngọai Giao. Ai cũng có thể hiểu ông đă đóng vai tṛ theo dơi, đôn đốc cuộc “Di Tản- Lui Binh” êm thắm và bí ẩn theo ư muốn của chánh phủ Hoa Kỳ chứ không hẳn là theo ư của Tư Lệnh Cang. Tuy vậy Phó Đô Đốc Cang cho biết “ông Armitage cũng không làm điều ǵ to tát và không tỏ lộ là người có quyền chỉ huy trong cuộc di tản như những lo ngại”… khi nhắc tới vai tṛ sĩ quan Hoa Kỳ này.

Đối với chính phủ Hoa Kỳ, ông Armitage mới là người đích thực lănh trách vụ trong chiến dịch mang quân nhân, viên chức Hoa Kỳ liên quan đến HQ c̣n lại, toàn thể quân nhân HK tại Sàig̣n lúc ấy chỉ c̣n khoảng 900 người cần mang ra khỏi VN càng sớm càng tốt.

Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng đă hướng dẫn sĩ quan liên lạc Armitage thăm vùng cầu B́nh Lợi, quan sát khu Quân Cảng và HQCX sau đó đi xuống Chiến Hạm HQ 3 rồi chuyển qua HQ 5, và sau đó đón Tướng Cang và Tướng Diệp Quang Thủy từ một Tiểu Đỉnh lên Soái Hạm, thay v́ xuống chiến hạm từ Bộ Tư Lệnh như bao nhiêu người khác để bảo mật.

 

Ai Là Quyền Tư Lệnh Cuối Cùng Trên Đất Liền?

 

Chiều hôm 29-4-75, Pḥng báo chí Hải Quân nhận lệnh theo dơi các diễn biến đi họp tại Tổng Tham Mưu, như lời kêu gọi. Khuya 29 và rạng sáng ngày 30 tháng 4 lại được lệnh từ Đại Tá Tấn, hành xử như nhân vật số 1 của HQ; Đại Tá Tấn cũng mời Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng từ Miền Tây về cùng ông chỉ huy, Tướng Thăng nói “ Chờ tôi lấy trực thăng và sẽ có mặt tại BTL.” Và đến gần trưa 30 tháng 4 vài giờ trước khi Tổng Thống Minh chính thức đọc lời đầu hàng lại có sự xuất hiện của Đại Tá Trần B́nh Phú, Trưởng Khối Nhân Viên Bộ Tư Lệnh được Tư Lệnh Cang (hay ông Tấn) chuyển lại quyền ra mặt, ở lại kiểm soát, chỉ huy Hải Quân.

Nhiều người gọi ông Đại Tá Tấn là Tư Lệnh cuối tháng Tư, và ông cũng ra lệnh cho vài hạm trưởng trong ngày 29-4- “nhân danh Tư Lệnh” (dù không nói rơ Tư Lệnh tên ǵ), nhưng không xác định Tư Lệnh là chính ông hay không?  Người ta thấy trong ngày 29 tháng Tư, ông Tấn trong quân phục đại lễ HQ, có hai xe Jeep Quân Cảnh hộ tống vào Bộ Tư Lệnh HQ.

Người ta tin rằng Đại Tá Tấn đă được Tổng Thống Dương Văn Minh bổ nhậm bằng khẩu lệnh ngay sau khi biết ư định của Tư Lệnh Hải Quân Chung Tấn Cang xin có kế hoạch di tản. Ông Minh nói, “Các anh cứ việc đi và cho mang theo hai người thân cũng là sĩ quan cao cấp VNCH”, đồng thời từ chối lên một chiến hạm chuẩn bị chu đáo “dành riêng để nghinh đón Nội Các và di tản các giới lănh đạo quốc gia”.

Sau 16 năm tù “cải tạo” cay đắng nhục nhằn, đi Hoa Kỳ tị nạn, Đại Tá Tấn có ư định định cư tại thành phố Seattle cùng với Đại Tá Dũ (Cơ Khí), sau đó ông Tấn di chuyển về Cali. Khi được hỏi ông có phải là quyền Tư Lệnh ngày 30-4 không? Đại Tá Tấn giữ thái độ yên lặng và xác nhận vai tṛ của ông trong nỗ lực tuyệt vọng này.

Bấy giờ nhiều cánh quân VC đă vào tới Sài G̣n, xe tăng T-54 đă nghiến ḷng đường phố Sài G̣n tới góc đường Đinh Tiên Hoàng, Hiền Vương, Hai Bà Trưng và nhiều nơi khác. Mặt khác đoàn quân CS Bắc Việt cũng trên đường tiến tới ủi xập cổng sắt Dinh Độc Lập và đ̣i chánh phủ VNCH phải đầu hàng.

Trong khi đó Đại Tá Trần B́nh Phú, Trưởng Khối Nhân Viên cũng được các sĩ quan tham mưu và nhân viên có mặt lúc ấy xác nhận ông là người ra mặt chỉ huy tại Bộ Tư Lệnh. Trung uư Đỗ Anh Tuấn em vợ của Đại Tá Trần B́nh Phú cùng với Trung Tá Phan Ngọc Xuân chỉ huy trưởng Tổng Hành Dinh BTL/HQ tiếp tục cầm súng chỉ huy những vị này và vài sĩ quan, hạ sĩ quan thuộc Khối An Ninh đi theo Đại Tá Tấn là những người cuối cùng tôi gặp và từ giă ở ṿng vây rào kẽm gai chằng chịt.

 

BTL/HQ Bỏ Ngỏ Từ Lúc Tổng Thống Đầu Hàng

 

Giờ phút ấy tôi không nghĩ được phải làm ǵ, bỏ chạy ra xe về đón gia đ́nh xuống tàu hay ra vài điểm hẹn “chờ Trực Thăng”?  Không hiểu tại sao giờ phút đó chúng tôi c̣n đủ b́nh tĩnh, không sợ pháo kích và T-54 càn nát người và tiến vào ṿng rào Hải Quân không chừng?

Trong giờ phút căng thẳng tôi nghe theo lời yêu cầu của người bạn, chỉ biết Trung Úy Đỗ Anh Tuấn là người thân tín, kỷ luật bạn học trường Taberd, vào cùng quân chủng giao súng, khẩn khoản mong tôi đứng trong đội ngũ bảo vệ cuối cùng Bộ Tư Lệnh dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Phú. Tôi làm theo yêu cầu, cho đến khi biết rằng: Thật sự tuyệt vọng rồi, như lời anh Đệ thông tấn viên truyền h́nh ABC, anh Nick Út thông tấn AP, hai anh hôm trước đến chia tay tôi tại BTL/HQ và muốn rủ cô em B́nh Minh cùng theo anh lên máy bay Hoa Kỳ. Họ đưa tôi bản tin từ tờ New York Times từ ngày 24-4-75 viết về sự thất thủ đă là sự thực không chối căi được khi viện trợ Hoa Kỳ cho VNCH đă bị ngưng. Chấm dứt bao nhiêu năm sát cánh: với 58,000 người lính Hoa Kỳ tử vong có lúc quân số lính Mỹ ở VN lên tới trên nửa triệu người, cũng như tổng cộng gần 200 tỷ đô la đă tiêu pha cho cuộc chiến tranh VN, với khoảng 500 triệu cho tài khoá năm cuối, viện trợ không bằng hiện kim mà viện trợ bằng thuốc lá dự trù cho tài khoá sau 1975 cũng bị cắt đứt.  Hải Quân lúc ấy có quân số trên 40 ngàn chiến sĩ… nhưng viện trợ nay thực sự bị cắt ngang rồi!

“Hăy rời Sài G̣n ngay hôm nay đi – không thể là ngày mai!”.  Phóng viên AP, Nick Út, và Đệ của Hệ thống Truyền h́nh Hoa Kỳ ABC và ông Ba Lê của Truyền H́nh Nhật NHK cùng nói như vậy. “Đừng để quá muộn!”

Cũng vào gần buổi trưa, Trung Tướng Vĩnh Lộc rời Bộ TTM và Trung Tướng Trần Văn Trung cũng đi vào Bến Bạch Đằng gặp Đại Tá Tấn t́m tầu ra đi. Lúc này th́ công trường Bạch Đằng cũng vẫn c̣n nhiều người chen lấn. Trước đó một giờ Giáo Sư Lê Đ́nh Chi, cùng với gia đ́nh ông có Lê Đ́nh Cẩm, Nguyễn Hữu Phúc (Puyallup), Huyên… là những người thân cũ trên một chiếc xe van đến kiếm chúng tôi t́m đường ra đi, nhưng tôi cũng đang trong trạng thái vô cùng bối rối nên không thực hiện được lời hứa: cùng đi với họ trên chuyến Tàu của Trung Úy Đỗ Anh Tuấn, nếu giờ phút đau ḷng tuyệt vọng xảy ra.

Lúc ấy Thiếu Tá Trần Thiện Hiệp trong một may mắn bất ngờ sau khi chờ đợi được đi theo cựu Tư Lệnh Trần Văn Chơn, đă nhẩy xuống chiếc chiến hạm nhỏ đậu gần HQCX, mang theo được hai vị tướng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa vào giờ chót: Tướng Trung và Tướng Vĩnh Lộc lúc ấy là Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực theo lời yêu cầu của Đại Tá Tấn, giúp Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Vĩnh Lộc rời Sài G̣n, đúng vào lúc tướng Nguyễn Hữu Hạnh lên thay.

Tướng Lộc trước đó cũng đă từng kêu gọi giữ vững tay súng, Tướng Lộc cũng miệt thị Đại Tướng Viên về hành động đào tẩu. Nhưng vào sáng ngày 30 tháng Tư, ông Vĩnh Lộc đă nhờ Trung Uư Hùng lái xe Jeep “chở tới Đài Phát Thanh Sài G̣n để gửi đi thêm một thông điệp mới”. Thay v́ tới đài phát thanh, ông đă đi đón ca sĩ Minh Hiếu và chia tay với Hùng ở Bộ Tư Lệnh Hải Quân.

Vào sáng ngày này, hệ thống vô tuyến có rất nhiều lời gọi máy của các tướng tá, sĩ quan Bộ Binh thiết tha kêu gọi: “Các anh Hải Quân ơi, chờ chúng tôi đi với, hăy cứu lấy chúng tôi v́ phi trường Tân Sơn Nhất cũng đă tan nát rồi. Đâu c̣n ngă nào để tránh CS đâu? – VC đă vào tới. HQ đừng đi vội kiên nhẫn chờ cứu chúng tôi.”

Nhưng bây giờ là trưa 30 tháng Tư – quá muộn thật rồi”… Các nẻo đường đă rền tiếng xe tăng, và tiếng đạn pháo kích thi nhau rền vang rất gần, và súng đă cùng với quân phục mũ nón vung văi chất đống khắp nẻo đường từ BTL/HQ về tới Phú Nhuận nơi tôi đang cư trú tạm.

Khác với Đại Tá Tấn ở lại và đi tù trên 16 năm, Đại Tá Phú cũng xuất hiện như chớp nhoáng trong ngày 30-4, nhưng Đại Tá Phú cùng Trung Úy Tuấn đă kịp xuống tầu rời Bến Bạch Đằng ra biển ngay vào giờ phút ông Minh đọc lời đầu hàng trên radio.

Và giờ phút ấy đă xảy ra thật. Nhanh chóng như một chợp mắt. Từ đó radio đă nhiều lần đọc lời kêu gọi buông súng và đầu hàng. Thôi thế là hết tất cả, không theo tầu di tản về Miền Tây, không ra Phú Quốc, và cũng không được theo tầu ra khơi đi tị nạn.

Tôi rời Công Trường Bạch Đằng có tượng đài Đức Thánh Trần, cổng vào Bộ Tư Lệnh, t́m Tuấn, sau đó lái xe lách xe qua những tốp người đang hôi của tại khách sạn và căn cứ Mỹ tại các cao ốc xung quanh Bộ Tư Lệnh Hải Quân, để về nhà đón người thân yêu ra đi.

Tôi cùng với gia đ́nh trở lại Bến Bạch Đằng và chạy tiếp tới Đặc Khu Rừng Sát để t́m tàu rời Sài G̣n th́ bến bờ đă hoang vắng… Vô phương trong lúc tiếng pháo kích nổ vang.

Ḷng cảm thấy như ông Dương Văn Minh đă mở “Lỗ Lù” (*) của chiến hạm đời tôi… Lúc ấy tôi cảm thấy như đă quá muộn, tôi như lặng lờ chết ch́m, ch́m dần… khoan thai xuống ḷng biển.

Như từ đáy biển sâu, tôi cầu mong cho vài chục chiến hạm và vài chục ngàn quân nhân và dân chúng miền Nam đi thoát được, khai mở ra những đợt thuyền nhân kế tiếp, Nếu họ không tập trung chiến đấu ở Miền Tây được, th́ cũng tiếp tục “Khai phá mở mang bờ cơi sơn hà theo bước chân tiền nhân” bằng h́nh thức “mang Việt Nam ra khơi tới khắp năm châu, tận cuối chân trời và trên toàn cơi địa cầu.

 

Phạm Kim

 





NHỮNG NGƯỜI LÍNH


Tôi đặt hành lư vào hộc ở trên đầu rồi ngồi xuống ghế. Đây là chuyến bay dài làm tôi ước ǵ ḿnh có một quyển sách hay để đọc trên phi tŕnh. Có lẽ tôi cũng cần chợp mắt một chút.
Vừa lúc trước khi máy bay cất cánh, một nhóm 10 người lính trẻ men theo lối đi và ngồi hết vào các chỗ trống rải rác c̣n lại. Chẳng có ǵ để làm, tôi bắt đầu gợi chuyện người lính ngồi gần nhất:
- Các cậu đi tới đâu vậy?
- Petawawa. Chúng tôi sẽ ở đó hai tuần để thụ huấn một chương tŕnh huấn luyện đặc biệt rồi sau đó sẽ bổ sung tới A Phú Hăn.
Sau khi máy bay cất cánh độ một tiếng th́ tiếng loa thông báo là trên máy bay có bán thức ăn nhẹ đựng trong bao giá 5 mỹ kim.
Cũng c̣n lâu lắm chuyến bay mới tới phía Đông nên tôi quyết định mua một bao đồ ăn để vừa ăn vừa giết th́ giờ.. Khi tôi móc bóp lấy tiền th́ chợt nghe một người lính hỏi bạn ḿnh là có muốn mua thức ăn không.
- Không! Có vẻ như mắc quá đó.. Bao lunch ǵ mà tới 5$.
Thôi tao ráng đợi tới căn cứ hẳn hay.
Và anh lính trẻ gật gù đồng ư với bạn.
Tôi đảo mắt nh́n chung quanh th́ thấy mấy người lính khác cũng không có ư định mua ǵ cả mặc dù lúc đó cũng đă tới giờ ăn trưa rồi. Một ư nghĩ chợt đến trong đầu, tôi gọi người nữ tiếp viên tới đưa cho bà ta 50$ và nói:
- Xin bà vui ḷng lấy thức ăn cho những người lính nầy.
Người tiếp viên ngạc nhiên nắm chặt lấy tay tôi, qua đôi mắt long lanh ngấn lệ v́ xúc động, bà ngơ lới cám ơn tôi và nghẹn ngào:
- Con trai tôi cũng là một quân nhân đang chiến đấu tại Iraq . Nghĩa cử nầy của ông như đang dành cho nó vậy. Rồi bà xăng xái đi lấy 10 bịch đồ ăn trao cho tất cả các người lính trên tàu. Sau đó bà dừng lại chỗ tôi hỏi:
- Thưa ông dùng ǵ ạ? Ḅ, gà rất hảo hạng.
- Xin cho tôi gà
Tôi trả lời bà ta trong một thoáng ngạc nhiên v́ theo tôi biết hạng economy bây giờ chỉ có BOB thôi mà.


Người nữ tiếp viên đi về phía trước của máy bay độ một phút sau trở lại với nguyên khay thức ăn nóng hổi dành cho hành khách vé hạng nhất, bà trịnh trọng nói với tôi:
- Đây là tấm ḷng tri ân nho nhỏ của những người trên chuyến bay nầy đối với ông
Sau khi ăn xong với tâm trạng sảng khoái nhẹ nhàng, tôi bước tới pḥng vệ sinh ở phía sau cùng. Trên đường đi, một người đàn ông th́nh ĺnh đứng lên chận tôi lại nói:
- Tôi rất cảm phục việc ông làm, xin ông cho tôi được chia phần mà vui ḷng nhận cho.
Nói xong, ông ta dúi vào tay tôi 25 mỹ kim.
Sau đó không lâu, viên phi công trưởng rời buồng lái vừa đi vừa nh́n số ghế ghi trên hộc hành lư, linh cảm khiến tôi thầm mong ông ta đừng kiếm tôi nhưng Chúa ơi! Ông ta dừng lại ngay hàng ghế của tôi rồi cười thật tươi và ch́a tay ra nói:
- Tôi muốn được bắt tay ông
Cực chẳng đă, tôi mở dây an toàn đứng dậy bắt tay viên phi công trưởng.
Với giọng hân hoan, ông ta nói lớn như để mọi người cùng nghe:
- Tôi cũng đă từng là một quân nhân và cũng là phi công chiến đấu. Có một lần có người cũng mua cho tôi thức ăn. Điều đó thực sự thể hiện cả một tấm ḷng tốt đẹp mà tôi không bao giờ quên.
Cả một tràng pháo tay tán thưởng vang dội làm tôi đỏ bừng mặt v́ mắc cở.
Chỉ với một hành động nhỏ nhặt tầm thường của tôi mà đánh động lương tâm con người đến thế sao?
V́ chuyến bay quá dài nên có một lúc, tôi phải đi bộ về phía trước để rản gân cốt th́ bỗng nhiên có một nam hành khách ngồi trên tôi độ sáu dăy đưa tay ra bắt và để lại trong tay tôi cũng 25 mỹ kim.
Bầu không khí trên chuyến bay thật nhẹ nhàng và chan hoà t́nh người cho tới khi máy bay hạ cánh. Tôi lấy hành lư và bắt đầu bước ra khi vừa tới cửa máy bay th́ một người đàn ông chận tôi lại và nhét nhanh vào túi áo tôi một thứ ǵ đó xong ông ta vội vả bước đi mà không nói một lời. Lại thêm 25$ nữa.
Nếu tính ra, tôi chỉ chi có 50$ mà bây giờ thu lại tới 75$. Kiếm được 25$ dễ dàng đến thế sao! À ! Quên! C̣n bữa ăn thiệt ngon miệng nữa chứ.
Đúng là khi ta làm phải th́ không bao giờ lỗ lă cả.
Tôi vui vẻ bước nhanh vào cửa phi trường th́ thấy mấy người lính trẻ kiểm điểm nhân số để chuẩn bị về căn cứ. Tôi tiến tới trao cho họ 75 mỹ kim và nói:
- Từ phi trường về tới trại phải khá xa. Mà bây giờ cũng đă tới giờ để dằn bụng một cái sandwich chứ. Chúa sẽ ban ơn cho các cậu.
Mười người lính trẻ trong ngày hôm đó chắc đă rời chuyến bay trong tâm trạng yêu thương và kính mến những hành khách đồng hành. Tôi hăng hái bước tới xe với lời th́ thầm nguyện cầu cho tất cả sẽ được trở về trong an b́nh.
Những chàng trai nầy đă hy sinh tất cả cho quê hương m